Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2009

Chọn tuổi trong hôn nhân

Từ xa xưa đã có phong tục chọn tuổi trong hôn nhân rồi, hiện nay phần lớn người Trung Quốc, Việt Nam, và một số nước Châu Á vẫn còn giữ phong tục này , muốn cưới vợ, gả chồng điều trước tiên là xem tuổi có hợp với nhau hay không, nếu hợp tuổi thì tiến tới, bằng không hợp tuổi thì không kết hợp.


Như chúng ta đã biết một cuộc hôn nhân hạnh phúc phụ thuộc rất nhiều yếu tố chứ không phải riêng tuổi có hợp với nhau hay không như : có yêu và hiểu nhau chưa,hoàn cảnh gia đình đôi bên, trình độ học vấn, sức khỏe, điều kiện làm việc, nhà xa hay gần nhau, sở thích, tâm lý có hợp nhau hay không.v.v…


Cho nên việc chọn tuổi trong hôn nhân cũng là vấn đề tham khảo, cái cơ bản cái cốt yếu là đôi bên có hợp và yêu nhau hay không, chứ tuổi tốt hợp phong thủy đó, mà cha mẹ không đồng ý thì cũng là một trở ngại, hoặc đi kèm những yếu tố nói trên thì cũng khó mà thành chồng vợ được.


CHỌN VỢ GẢ CHỒNG:

Tính theo tuổi âm lịch lấy năm sanh trừ năm cưới vợ cộng thêm một, thí dụ cưới vợ năm 2008 trừ cho năm sanh 1981=27 tuổi cộng thêm 1 = 28 tuổi.


1. Tuổi Canh Tý sanh năm 1960

Nam: Cung PhiTốn, Cung sanh Càn, Ngũ hành Thổ,

Chọn vợ các tuổi như sau, còn nữ chọn chồng là Canh Tý, tuổi tô đậm là tốt

còn lại là trung bình.


Tuổi kỵ: Nhâm Dần, Giáp Dần, Quý Mẹo, Ất Mẹo, Mậu Thân, Bính Thân

Tuổi Hạp nên kết thành lương duyên: Tuổi Tân sửu,Quý Sửu, Giáp Thìn,Nhâm Thìn,Bính thìn, Đinh Tỵ, Kỷ Tỵ, Quý tỵ, Đinh Mùi, Ất Mùi, Kỷ Dậu, Đinh Dậu, Canh Tuất, Mậu Tuất, Tân Hợi.
Năm tuổi kỵ cưới vợ gả chồng: Nam 15, 21, 25, 27, 33, 37, 39. Nữ 17, 22, 23, 29, 34, 35, 41.


2.Tuổi Tân sửu sinh năm 1961.

Nam: cung phi Chấn, Cung sanh Đoài, Ngũ hành Thổ.

Chọn vợ các tuổi như sau, còn nữ chọn chồng là Tân Sửu, tuổi tô đậm là tốt

còn lại là trung bình.


Tuổi kỵ: Tân sửu, Quý sửu, Đinh Mùi, Kỷ Mùi, Ất Mùi, Canh Tuất, Mậu Tuất.
Tuổi hạp nên kết thành lương duyên: Nhâm dần, Giáp Dần, Quý mão, Ất Mão, Giáp Thìn, Bính Thìn, Ất Tỵ, Quý Tỵ, Bính Ngọ, Giáp Ngọ, Mậu Ngọ, Mậu Thân, Bính Thân, Kỷ Dậu, Đinh Dậu, Tân Hợi, Kỷ Hợi, Nhâm Tý, Canh Tý.
Năm tuổi kỵ cưới vợ gả chồng: Nam:18, 24, 30, 36, 42, 48. Nữ 18, 20, 26, 30, 32, 38, 42.


3.Tuổi Nhâm dần sinh năm 1962.

Nam: cung phi Khôn, Cung sanh Cấn, Ngũ hành Kim.

Chọn vợ các tuổi như sau, còn nữ chọn chồng là Nhâm Dần, tuổi tô đậm là

tốt , còn lại là trung bình.

Tuổi kỵ: Bính Ngọ, Mậu Ngọ, Giáp Ngọ, Nhăm Tý, Canh Tý, Đinh Tỵ.
Tuổi hạp nên kết thành lương duyên: Nhâm Dần, Giáp Dần, Quý Mão, Giáp Thìn, Bính Thìn, Đinh Mùi, Kỷ Mùi, Ất Mùi, Kỷ Dậu, Đinh Dậu, Tân Hợi, Kỷ Hợi, Quý Sửu, Tân Sửu.
Năm tuổi kỵ cưới vợ gả chồng: Nam, 24, 30, 36, 42, 48, 54. Nữ 20, 26, 32, 38, 44, 50, 56.


4. Tuổi Quý Mão sinh năm 1963. Nam cung phi Khảm, cung sanh Ly, ngũ hành Kim.

Chọn vợ các tuổi như sau, còn nữ chọn chồng là Quý Mão, tuổi tô đậm là tốt

còn lại là trung bình.

Tuổi kỵ không nên cưới gả, Nhăm Tý, Canh Tý, Đinh Dậu.
Tuổi hạp nên kết thành lương duyên, Quý mão, Ất Mão, Giáp Thìn, Bính Thìn, Ất Tỵ, Đinh Tỵ, Bính Ngọ, Mậu Ngọ, Đinh Mùi, Kỷ Mùi, Ất Mùi, Mậu Thân, Canh Thân, Bính Thân,Canh Tuất, Mậu Tuất, Tân Hợi, Kỷ Hợi, Quý Sửu, Tân Sửu, Giáp Dần, Nhâm Dần.
Những tuổi kỵ cưới vợ gả chồng, Nam: 20, 24, 26, 32, 36, 38, 44. Nữ: 18, 23, 30, 36, 36, 42.


5.Tuổi Giáp Thìn sinh năm 1964. Nam cung phi Ly, cung sanh Tốn, ngũ hành hỏa.

Chọn vợ các tuổi như sau, còn nữ chọn chồng là Giáp Thìn, tuổi tô đậm là

tốt , còn lại là trung bình.

Tuổi kỵ không nên cưới gả, Đinh Mùi, Kỷ Mùi, Kỷ Dậu, Tân Dậu, Ất mão, Quý mão.
Tuổi hạp nên kết thành lương duyên, Giáp Thìn, Bính Thìn, Ất Tỵ, Đinh Tỵ, Bính Ngọ, Mậu Ngọ, Mậu Thân, Canh Thân, Bính Thân, Tân hợi, Kỷ Hợi, Nhâm Tý, Quý Sửu, Tân Sửu, Giáp Dần, Nhâm Dần.
Những tuổi kỵ cưới vợ gả chồng, Nam: 20, 26, 32, 38, 40, 44, 56. Nữ: 18, 22, 24, 30, 34, 36, 42.


6.Tuổi Ất Tỵ sinh năm 1965 nam cung Pi Cấn, cung sanh Đoài, ngũ hành thuộc Hỏa.

Chọn vợ các tuổi như sau, còn nữ chọn chồng là Ất Tỵ, tuổi tô đậm là

tốt , còn lại là trung bình.

Tuổi kỵ không nên cưới gả: Mậu Thân, Canh Thân, Giáp dần, Nhâm dần.
Tuổi hạp nên kết thành lương duyên: Ất Tỵ, Đinh Tỵ, Bính Ngọ, Đinh Mùi , Kỷ Mùi, Kỷ Dậu, Đinh dậu, Tân dậu, Canh Tuất, Nhâm Tuất, Mậu Tuất, Nhâm Tý, Canh Tý, Quý Sửu, Tân Sửu, Ất Mão, Quý Mão, Giáp Thìn.
Những tuổi kỵ cưới vợ gả chồng: Nam 19, 25, 31, 37, 43, 49, 55. Nữ 19, 25, 31, 37, 43, 49, 55.


7.Tuổi Bính Ngọ sinh năm 1966 Nam cung Phi Đoài, Cung sanh Càn, ngũ hành

thuộc Thủy.

Chọn vợ các tuổi như sau, còn nữ chọn chồng là Bính Ngọ, tuổi tô đậm là

tốt , còn lại là trung bình.

Tuổi kỵ không nên cưới gả: Kỷ Dậu, Tân Dậu, Quý Sửu, Tân Sửu, Canh Tý.
Tuổi hạp nên kết thành lương duyên: Bính Ngọ, Mậu Ngọ, Mậu Thân, Canh Thân, Canh Tuất, Mậu Tuất, Tân Hợi, Kỷ Hợi, Quý Hợi, Giáp Dần, Nhâm Dần, Ất Mão, Bính Thìn, Đinh Tỵ, Ất Tỵ.
Những tuổi kỵ cưới vợ gả chồng: Nam 19, 21, 27, 31, 33, 39. Nữ 23, 28, 29, 35, 40.


8. Tuổi Đinh Mùi sinh năm 1967 , Nam cung phi Càn, cung sanh Đoài, ngũ hành

thuộc Thủy.

Chọn vợ các tuổi như sau, còn nữ chọn chồng là Đinh Mùi, tuổi tô đậm là

tốt , còn lại là trung bình.

Tuổi kỵ không nên cưới gả: Nhâm Tý, Giáp Tý, Canh Tý, Bính Thìn, Giáp Thìn, Quý Sửu.
Tuổi hạp nên kết thành lương duyên: Mậu Thân, Canh Thân, Kỷ Dậu, Tân Dậu, Canh Tuất, Nhâm Tuất, Tân Hợi, Quý Hợi, Kỷ Hợi, Giáp Dần, Nhâm Dần, Ất Mão, Quý Mão, Đinh Tỵ, Ất Tỵ, Mậu Ngọ.
Những tuổi kỵ cưới vợ gả chồng: Nam 24, 30, 36, 42, 48, 54. Nữ 20, 24, 26, 32, 36, 38, 44.


9. Tuổi Mậu Thân sinh năm 1968, Nam cung phi Khôn, cung sanh Cấn, ngũ hành

thuộc thổ.

Chọn vợ các tuổi như sau, còn nữ chọn chồng là Mậu Thân, tuổi tô đậm là

tốt , còn lại là trung bình.

Tuổi kỵ không nên cưới gả: Tân hợi, Quý Hợi, Giáp Dần.
Tuổi hạp nên kết thành lương duyên: Kỷ Dậu, Tân Dậu, Canh Tuất Nhâm Tuất, Nhâm Tý, Giáp Tý, Canh Tý, Quý Sửu, Ất Sửu, Tân Sưu, Ất Mão, Quý Mão, Bính Thìn , Giáp Thìn, Đinh tỵ , Ất Tỵ, Mậu Ngọ, Bính Ngọ, Kỷ Mùi , Đinh Mùi.
Những tuổi kỵ cưới vợ gả chồng: Nam 24, 30, 36, 42, 48, 54. Nữ 20, 26, 32, 38, 44, 50, 56.


10. Tuổi Kỷ Dậu sinh năm 1969 , Nam cung phi Tốn, cung sanh Ly, ngũ hành thuộc

Thổ.

Chọn vợ các tuổi như sau, còn nữ chọn chồng là Kỷ Dậu, tuổi tô đậm là

tốt , còn lại là trung bình.

Tuổi kỵ không nên cưới gả: Kỷ Dậu, Tân Dậu, Quý Dậu, Ất Mão, Đinh Mão, Mậu Ngọ, Bính Ngọ.
Tuổi hạp nên kết thành lương duyên: Canh Tuất, Nhâm Tuất, Tân Hợi, Quý Hợi, Nhâm Tý , Giáp Tý, Quý Sửu, Giáp Dần, Bính Dần, Nhâm Dần, Bính Thìn Giáp Thìn, Đinh Tị, Canh Thân, Mậu Thân, Đinh mùi.
Những tuổi kỵ cưới vợ gả chồng: Nam 20, 26, 30, 32, 38, 42. Nữ 18, 24, 29, 30, 36, 41.
11. Tuổi Canh Tuất sinh năm 1970, Nam cung phi Chấn, cung sanh Khảm, ngũ hành

thuộc Kim.

Chọn vợ các tuổi như sau, còn nữ chọn chồng là Canh Tuất, tuổi tô đậm là

tốt , còn lại là trung bình.

Tuổi kỵ không nên cưới gả: Quý Sửu, Ất Sửu, Giáp Dần, Bính Dần, Nhâm Dần, Canh Thân , Mậu Thân, Bính Thìn.
Tuổi hạp nên kết thành lương duyên: Canh Tuất, Nhâm Tuất, Tân Hợi, Quý Hợi, Nhâm Tý, Giáp Tý, Ất Mão, Đinh Mão, Quý Mão, Đinh Tỵ, Ất Tỵ, Mậu Ngọ, Bính Ngọ, Kỷ Mùi, Đinh Mùi, Tân Dậu, Kỷ Dậu.
Những tuổi kỵ cưới vợ gả chồng trong năm tuổi: Nam 22, 28, 34, 40, 46, 52. Nữ 22, 26, 28, 34, 40.


12.Tuổi Tân Hợi sinh năm 1971, nam cung Phi Khôn, cung sanh Khôn, ngũ hành thuộc Kim.

Chọn vợ các tuổi như sau, còn nữ chọn chồng là Tân Hợi, tuổi tô đậm là

tốt , còn lại là trung bình.

Tuổi kỵ không nên cưới gả, Quý sửu, Ất sửu, Kỷ Mùi, Đinh Mùi, Mậu Thân, Canh Thân, Đinh Tỵ.
Tuổi hạp nên kết thành lương duyên: Tân Hợi, Quý Hợi, Nhâm Tý , Giáp Tý, Giáp Dần, Bính Dần, Ất Mão, Đinh Mão, Quý mão, Bính Thân, Mậu Ngọ, Bính Ngọ, Tân Dậu, Kỷ Dậu, Nhâm Tuất, Canh Tuất.
Những tuổi kỵ cưới vợ gả chồng trong năm tuổi: Nam 21, 25, 27, 33, 37, 39, 45. Nữ 19, 23, 29, 31, 35, 41.


13.Tuổi Nhâm Tý sinh năm 1972 , Nam cung Phi Khảm, Cung sanh Chấn, ngũ hành thuộc Mộc.

Chọn vợ các tuổi như sau, còn nữ chọn chồng là Nhâm Tý, tuổi tô đậm là

tốt , còn lại là trung bình.

Tuổi kỵ không nên cưới gả: Nhâm Tý , Giáp Tý, Ất Mão,Đinh Mão, Mậu Ngọ, Canh Mgọ, Bính Ngọ.
Tuổi hạp nên kết thành lương duyên: Quý sửu, Ất Sửu, Giáp Dần, Bính Dần, Bính Thìn, Giáp Thìn, Đinh Tỵ, Kỷ Tỵ, Ất Tỵ, Kỷ Mùi, Đinh Mùi, Canh Thân, mậu Thân, Tân Dậu, K3 Dậu, Nhâm Tuất, Canh Tuất, Quý Hợi, Kỷ Hợi.
Những tuổi kỵ cưới vợ gả chồng trong năm tuổi: Nam 24, 28, 30, 36, 40. Nữ 20, 22, 26, 32, 34, 38, 44.


14.Tuổi Quý sửu sinh năm 1973 , Nam cung Phi Ly, Cung sanh Tốn, ngũ hành thuộc Mộc.

Chọn vợ các tuổi như sau, còn nữ chọn chồng là Quý Sửu, tuổi tô đậm là

tốt , còn lại là trung bình.

Tuổi kỵ không nên cưới gả: Nhâm Tuất, Canh Tuất, Đinh Mùi.
Tuổi hạp nên kết thành lương duyên: Quý Sửu, Ất Sửu, Giáp Dần, Bính Dần, Ất Mão, Đinh Mão, Bính Thìn, Mậu Thìn, Đinh Tỵ, Kỷ Tỵ, Ất Tỵ, Mậu Ngọ, Canh Ngọ, Bính Ngọ, Canh Thân, Mậu Thân, Tân Dậu, Kỷ Dậu, Quý Hợi, Tân Hợi, Giáp Tý.
Những tuổi kỵ cưới vợ gả chồng trong năm tuổi: Nam 23, 27, 29, 35, 39, 41. Nữ 21, 23, 33, 35, 39.



15.Tuổi Giáp Dần sinh năm 1974 , Nam cung Phi Cấn, Cung sanh Cấn, ngũ hành thuộc Thủy.

Chọn vợ các tuổi như sau, còn nữ chọn chồng là Giáp Dần, tuổi tô đậm là

tốt , còn lại là trung bình.

Tuổi kỵ không nên cưới gả: Ất Mão, Đinh Mão, Đinh Tỵ, Kỷ Tỵ, Tân Dậu, Kỷ Dậu.
Tuổi hạp nên kết thành lương duyên: Giáp Dần, Bính Dần, Mậu Ngọ, Bính Ngọ, Canh Ngọ, Kỷ Mùi, Tân Mùi, Đinh Mùi, Nhâm Tuất, Canh Tuất, Quý Hợi, Tân Hợi, Giáp Tý, Nhâm Tý, Ất Sửu, Quý Sửu, Mậu Thìn.
Những tuổi kỵ cưới vợ gả chồng trong năm tuổi: Nam 20, 24, 26, 32, 36, 38, 44. Nữ 18, 24, 26, 30, 36, 38, 42.


16.Tuổi Ất Mão sinh năm 1975 , Nam cung Phi Đoài, Cung sanh Ly, ngũ hành thuộc Thủy.

Chọn vợ các tuổi như sau, còn nữ chọn chồng là Ất Mão, tuổi tô đậm là

tốt , còn lại là trung bình.

Tuổi kỵ không nên cưới gả: Canh Tân, Nhâm Thân,Mậu Thân, Giáp Tý, Nhâm Tý, Bính Dần, Giáp Dần , Kỷ Dậu.
Tuổi hạp nên kết thành lương duyên: Ất Mão, Đinh Mão, Bính Thìn, Mậu Thìn, Đinh Tỵ, Kỷ Tỵ, Mậu Ngọ, Canh Ngọ, Kỷ Mùi, Tân Mùi, Đinh Mùi, Nhâm Tuất, Canh Tuất, Quý Hợi, Tân Hợi, Ất Sửu, Quý Sửu.
Những tuổi kỵ cưới vợ gả chồng trong năm tuổi: Nam 22, 26, 28, 34, 40. Nữ 22, 24, 28, 34, 36, 40.


17.Tuổi Bính Thìn sinh năm 1976 , Nam cung Phi Càn, Cung sanh Khảm, ngũ hành thuộc Thổ.

Chọn vợ các tuổi như sau, còn nữ chọn chồng là Bính Thìn, tuổi tô đậm là

tốt , còn lại là trung bình.

Tuổi kỵ không nên cưới gả: Kỷ Mùi, Tân Mùi, Ất Sửu, Quý Sửu, Canh Tuất.
Tuổi hạp nên kết thành lương duyên: Bính Thìn, Mậu Thìn, Đinh Tỵ, Kỷ Tỵ, Mậu ngọ, Canh ngọ, Canh Thân, Nhâm Thân, Mậu Thân, Tân Dậu, Quý Dậu, Kỷ Dậu, Quý Hợi, Tân Hợi, Giáp Tý, Nhâm Tý, Bính Dần, Giáp Dần, Đinh Mão, Ất Mão.
Những tuổi kỵ cưới vợ gả chồng trong năm tuổi: Nam 21, 24, 30, 33, 36, 43. Nữ 20, 26, 29, 32, 38, 41.


18.Tuổi Đinh Tỵ sinh năm 1977 , Nam cung Phi Khôn, Cung sanh Khôn, ngũ hành thuộc Thổ.

Chọn vợ các tuổi như sau, còn nữ chọn chồng là Đinh Tỵ, tuổi tô đậm là

tốt , còn lại là trung bình.

Tuổi kỵ không nên cưới gả: Mậu Ngọ, Canh Ngọ, Giáp Tý, Nhâm Tý, Bính Dần, Giáp Dần, Quý Hợi.
Tuổi hạp nên kết thành lương duyên: Đinh Tỵ, Kỷ Tỵ, Kỷ Mùi, Tân Mùi, Canh Thân, Nhâm Thân, Tân Dậu, Quý Dậu, Kỷ Dậu, Nhâm Tuất, Giáp Tuất, Canh Tuất, Ất Sửu, Quý Sửu, Đinh Mão, Ất Mão, Mậu Thìn, Bính Thìn.
Những tuổi kỵ cưới vợ gả chồng trong năm tuổi: Nam 21, 27, 31, 33, 39, 43. Nữ 19, 23, 29, 31, 35, 41.


19.Tuổi Mậu Ngọ sinh năm 1978 , Nam cung Phi Tốn, Cung sanh Chấn, ngũ hành thuộc Hỏa.

Chọn vợ các tuổi như sau, còn nữ chọn chồng là Mậu Ngọ, tuổi tô đậm là

tốt , còn lại là trung bình.

Tuổi kỵ không nên cưới gả: Tân Dậu, Quý Dậu, Giáp Tý.
Tuổi hạp nên kết thành lương duyên: Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Canh Thân, Nhâm Tuất, Quý Hợi, Ất Sửu, Quý Sửu, Bính Dần, Giáp Dần, Đinh Mão, Ất Mão, Mậu Thìn, Bính Thìn, Kỷ Tỵ, Canh Ngọ, Tân Mùi, Mậu Thân, Giáp Tuất, Canh Tuất, Ất Hợi, Tân Hợi, Đinh Tỵ.
Những tuổi kỵ cưới vợ gả chồng trong năm tuổi: Nam 22, 24, 30, 34, 36, 42. Nữ 20, 26, 28, 32, 38, 40.


20.Tuổi Kỷ Mùi sinh năm 1979 , Nam cung Phi Chấn, Cung sanh Tốn, ngũ hành thuộc Hỏa.

Chọn vợ các tuổi như sau, còn nữ chọn chồng là Kỷ Mùi, tuổi tô đậm là

tốt , còn lại là trung bình.

Tuổi kỵ không nên cưới gả: Tân Dậu, Quý Dậu,Đinh Mão, Ất Mão, Mậu Thìn, Bính Thìn, Ất Sửu .
Tuổi hạp nên kết thành lương duyên: Kỷ Mùi, Tân Mùi, Canh Thân, Nhâm Thân, Nhâm Tuất, Quý Hợi, Ất Hợi, Tân Hợi, Giáp Tý, Bính Tý, Nhâm Tý, Bính Dần, Giáp Dần, Kỷ Tỵ, Đinh Tỵ, Canh Ngọ, Mậu Ngọ.
Những tuổi kỵ cưới vợ gả chồng trong năm tuổi: Nam 23, 29, 35, 41, 47, 53. Nữ 21, 27, 33, 39, 45, 51.


21.Tuổi Canh Thân sinh năm 1980 , Nam cung Phi Khôn, Cung sanh Khôn, ngũ hành thuộc Mộc.

Chọn vợ các tuổi như sau, còn nữ chọn chồng là Canh Thân, tuổi tô đậm là

tốt , còn lại là trung bình.

Tuổi kỵ không nên cưới gả: Canh Thân, Nhâm Thân, Quý hợi, Ất Hợi, Mậu Dần, Giáp Dần.
Tuổi hạp nên kết thành lương duyên: Tân Dậu, Quý Dậu, Nhâm Tuất, Giáp Tuất, Giáp Tý, Bính Tý, Nhâm Tý, Ất Sửu, Đinh Sửu, Quý sửu, Đinh Mão, Ất Mão, Mậu Thìn Bính Thìn, Kỷ Tỵ, Đinh Tỵ, Canh Ngọ, Mậu Ngọ, Tân Mùi, Kỷ Mùi.
Những tuổi kỵ cưới vợ gả chồng trong năm tuổi: Nam 20, 26, 30, 32, 38, 42. Nữ 20, 24, 30, 32, 36, 42.


22.Tuổi Tân Dậu sinh năm 1981 , Nam cung Phi Khảm, Cung sanh Càn, ngũ hành thuộc Mộc.

Chọn vợ các tuổi như sau, còn nữ chọn chồng là Tân Dậu, tuổi tô đậm là

tốt , còn lại là trung bình.

Tuổi kỵ không nên cưới gả: Ất Sửu, Đinh Sửu, Canh Ngọ, Mậu Ngọ, Tân Mùi , Kỷ Mùi, Ất Mão.
Tuổi hạp nên kết thành lương duyên: Tân Dậu, Quý Dậu, Nhâm Tuất Giáp Tuất, Quý Hợi, Ất Hợi, Giáp Tý, Bính Tý, Bính Dần, Mậu Dần, Giáp Dần, Kỷ Tỵ, Đinh Tỵ, Mậu Thìn, Bính Thìn, Nhâm Thân, Canh Thân.
Những tuổi kỵ cưới vợ gả chồng trong năm tuổi: Nam 20, 22, 28, 32, 34, 40. Nữ 22, 28, 30, 34, 40.


23Tuổi Nhâm Tuất sinh năm 1982, Nam cung Phi Ly, Cung sanh Đoài, ngũ hành thuộc Thủy.

Chọn vợ các tuổi như sau, còn nữ chọn chồng là Nhâm Tuất, tuổi tô đậm là

tốt , còn lại là trung bình.

Tuổi kỵ không nên cưới gả: Giáp Tý, Bính Tý, Ất Sửu, Đinh Sửu, Canh Ngọ, Mậu Ngọ, Bính Thìn.
Tuổi hạp nên kết thành lương duyên: Nhâm Tuất, Giáp Tuất, Quý Hợi, Ất Hợi, Bính Dần, Mậu Dần, Giáp Dần, Đinh Mão, Kỷ Mão, Ất Mão, Kỷ Tỵ, Đinh Tỵ, Tân Mùi, Kỷ Mùi, Nhâm Thân, Canh Thân, Quý Dậu.
Những tuổi kỵ cưới vợ gả chồng trong năm tuổi: Nam 20, 26, 32, 38, 44, 50, 56. Nữ 18, 24, 30, 36, 42, 48, 54.


24.Tuổi Quý Hợi sinh năm 1983 , Nam cung Phi Cấn, Cung sanh Càn, ngũ hành thuộc Thủy.

Chọn vợ các tuổi như sau, còn nữ chọn chồng là Quý Hợi, tuổi tô đậm là

tốt , còn lại là trung bình.

Tuổi kỵ không nên cưới gả: Nhâm Thân, Canh Thân, Đinh Tỵ.
Tuổi hạp nên kết thành lương duyên: Quý Hợi, Ất Hợi, Giáp tý , Bính Tý, Quý Sửu, Đinh Sửu, Bính Dần, Mậu Dần, Đinh Mão, Kỷ Mão, Ất Mão, Mậu Thìn, Canh Thìn, Bính Thìn, Canh Ngọ, Mậu Ngọ, Tân Mùi, Kỷ Mùi, Quý Dậu, Tân Dậu, Giáp Tuất, Nhâm Tuất.
Những tuổi kỵ cưới vợ gả chồng trong năm tuổi: Nam 24, 28, 30, 36, 40. Nữ 20, 26, 28, 32, 38, 40.


25.Tuổi Giáp Tý sinh năm 1984 , Nam cung Phi Đoài, Cung sanh Cấn, ngũ hành thuộc Kim.

Chọn vợ các tuổi như sau, còn nữ chọn chồng là Giáp Tý tuổi tô đậm là

tốt , còn lại là trung bình.

Tuổi kỵ không nên cưới gả: Đinh Mão, Kỷ Mão, Tân Dậu, Quý Dậu.
Tuổi hạp nên kết thành lương duyên: Giáp Tý, Bính Tý, Ất Sửu, Đinh Sửu, Bính Dần, Mậu Dần, Mậu Thìn, Canh Thìn, Bính Thìn, Kỷ Tỵ, Tân Tỵ, Đinh Tỵ, Canh Thân, Nhâm Thân, Tân Mùi, Kỷ Mùi, Giáp Tuất, Nhâm Tuất, Ất Hợi, Quý Hợi.
Những tuổi kỵ cưới vợ gả chồng trong năm tuổi: Nam 21, 27, 31,33, 39 . Nữ 22, 23, 28, 29, 34.


26.Tuổi Ất sửu sinh năm 1985 , Nam cung Phi Càn, Cung sanh Tốn, ngũ hành thuộc Kim.

Chọn vợ các tuổi như sau, còn nữ chọn chồng là Ất Sửu, tuổi tô đậm là

tốt , còn lại là trung bình.

Tuổi kỵ không nên cưới gả: Bính Dần, Mậu Dần, Nhâm Thân, Canh Thân, Kỷ Mùi.
Tuổi hạp nên kết thành lương duyên: Ất Sửu, Đinh Sửu, Đinh Mão, Kỷ Mão, Mậu Thìn, Canh Thìn, Kỷ Tỵ, Tân Tỵ, Đinh Tỵ, Canh Ngọ, Nhâm Ngọ, Mậu Ngọ, Ất Hợi, Quý Hợi, Quý Dậu, Tân Dậu, Bính Tý, Giáp Tý.
Những tuổi kỵ cưới vợ gả chồng trong năm tuổi: Nam 23, 29, 35, 41, 53. Nữ 21, 25, 27, 33, 37, 39.


27.Tuổi Bính Dần sinh năm 1986 , Nam cung Phi Khôn, Cung sanh Khảm, ngũ hành thuộc Hỏa.

Chọn vợ các tuổi như sau, còn nữ chọn chồng là Bính Dần, tuổi tô đậm là

tốt , còn lại là trung bình.

Tuổi kỵ không nên cưới gả: Kỷ Tỵ, Tân Tỵ, Tân Mùi, Quý Mùi, Kỷ Mùi, Đinh Sửu, Ất Sửu, Nhâm Thân.
Tuổi hạp nên kết thành lương duyên: Đinh Mão, Kỷ Mão, Mậu Thìn, Canh Thìn, Canh Ngọ, Nhâm Ngọ, Mậu Ngọ, Quý Dậu, Tân Dậu, Giáp Tuất, Nhâm Tuất, Ất Hợi, Quý Hợi, Bính Tý , Giáp Tý.
Những tuổi kỵ cưới vợ gả chồng trong năm tuổi: Nam 22, 28, 34, 40, 46, 52. Nữ 22, 28, 34, 40, 46, 52.


28Tuổi Đinh Mão sinh năm 1987 , Nam cung Phi Tốn, Cung sanh Càn, ngũ hành thuộc hỏa.

Chọn vợ các tuổi như sau, còn nữ chọn chồng là Đinh Mão, tuổi tô đậm là

tốt , còn lại là trung bình.

Tuổi kỵ không nên cưới gả: Canh Ngọ, Nhâm Ngọ, Bính Tý, Giáp Tý.
Tuổi hạp nên kết thành lương duyên: Đinh Mão, Kỷ Mão, Mậu Thìn, Canh Thìn, Kỷ Tỵ, Tân Tỵ, Tân Mùi, Kỷ Mùi, Quý Mùi, Nhâm Thân, Giáp Thân, Canh Thân, Quý Dậu, Ất Dậu, Tân Dậu, Giáp Tuất, Nhâm Tuất, Ất Hợi, Quý Hợi, Đinh Sửu, Ất Sửu, Mậu Dần, Bính Dần.
Những tuổi kỵ cưới vợ gả chồng trong năm tuổi: Nam 24, 30, 36, 40. Nữ 19, 20, 26, 31, 32, 38, 43.


29.Tuổi Mậu Thìn sinh năm 1988 , Nam cung Phi Chấn, Cung sanh Đoài, ngũ hành thuộc Mộc.

Chọn vợ các tuổi như sau, còn nữ chọn chồng là Mậu Thìn, tuổi tô đậm là

tốt , còn lại là trung bình.

Tuổi kỵ không nên cưới gả: Tân Mùi, Quý Mùi, Giáp Tuất, Bính Tuất.
Tuổi hạp nên kết thành lương duyên: Mậu Thìn, Canh Thìn, Kỷ Tỵ, Tân Tỵ, Canh Ngọ, Nhâm Ngọ, Nhâm Thân, Giáp Thân, Canh Thân, Quý Dậu, Ất Dậu, Tận Dậu, Ất Hợi, Quý Hợi, Bính Tý, Giáp Tý, Đinh Sửu, Ất Sửu, Mậu Dần, Bính Dần, Kỹ Mão, Đinh Mão.
Những tuổi kỵ cưới vợ gả chồng trong năm tuổi: Nam 24, 30, 36, 42, 54. Nữ 18, 20, 26, 30, 32, 38, 42.


30.Tuổi Kỷ Tỵ sinh năm 1989 , Nam cung Phi Khôn, Cung sanh Cấn, ngũ hành thuộc Mộc.

Chọn vợ các tuổi như sau, còn nữ chọn chồng là Kỷ Tỵ, tuổi tô đậm là

tốt , còn lại là trung bình.

Tuổi kỵ không nên cưới gả: Quý Dậu, Ất Dậu, Tân Dậu, Mậu Dần, Bính Dần, Kỷ Mão, Đinh Mão, Ất Hợi.
Tuổi hạp nên kết thành lương duyên: Kỷ Tỵ, Tân Tỵ, Canh Ngọ, Nhâm Ngọ, Tân Mùi, Quý Mùi, Nhâm Thân, Giáp Thân, Giáp Tuất, Bính Tuất, Nhâm Tuất, Bính Tý, Giáp Tý, Đinh Sửu, Ất Sửu, Canh Thìn, Mậu Thìn.
Những tuổi kỵ cưới vợ gả chồng trong năm tuổi: Nam 23, 27, 29, 35, 39, 41. Nữ 21, 23, 33, 35, 39.


31.Tuổi Canh Ngọ sinh năm 1990 , Nam cung Phi Khảm, Cung sanh Ly, ngũ hành thuộc Thổ

Chọn vợ các tuổi như sau, còn nữ chọn chồng là Canh Ngọ, tuổi tô đậm là

tốt , còn lại là trung bình.

Tuổi kỵ không nên cưới gả: Nhâm Thân, Giáp Thân, Quý Dậu, Ất Dậu, Mậu Dần, Bính Dần, Bính Tý.
Tuổi hạp nên kết thành lương duyên: Canh Ngọ, Nhâm Ngọ, Tân Mùi, Quý Mùi, Giáp Tuất , Bính Tuất, Nhâm Tuất, Ất Hợi, Đinh Hợi, Quý hợi, Đinh Sửu, Ất Sửu, Kỷ Mão, Đinh Mão, Canh Thìn, Mậu Thìn, Tân Tỵ, Kỷ Tỵ, Nhâm Ngọ, Canh Ngọ.
Những tuổi kỵ cưới vợ gả chồng trong năm tuổi: Nam 21, 25, 27, 33, 37, 39, 43. Nữ 22, 23, 29, 34, 35, 41.




Nguồn: ThongTri.Com

Thứ Ba, 20 tháng 1, 2009

Cách khởi động khi xe ôtô hết ắc quy

Nếu bỗng dưng xe ôtô của bạn không khởi động được, nguyên nhân có thể do ắc quy đã hết. Những thông tin sau sẽ giúp bạn tự xử lý được tình huống ngoài mong muốn này.

Tác nhân cơ bản gây hết điện ắc quy bao gồm: Hệ thống đèn pha, đèn nội thất, đèn xi nhan, máy điều hòa và dàn âm thanh bật khi xe không chạy. Để xe trong gara một thời gian dài không khởi động. Thiếu bảo dưỡng định kỳ ngăn đựng ắc quy dẫn đến tình trạng kém vệ sinh. Cầu đi-ốt hoặc bộ nạp điện ắc quy hỏng trong khi xe chạy. Nhiệt độ thấp cũng khiến cho dung dịch ắc quy bị đông cứng.

Một trong những biện pháp thường được áp dụng cho tình trạng này là nhờ người đẩy cho xe chuyển bánh nổ máy. Thao tác này dành cho các mẫu xe sử dụng bộ số tay.

Để thực hiện, cần làm các bước sau:

1- Vặn khóa đánh lửa về vị trí sẵn sàng làm việc, cài số thứ nhất cho hộp số, và sau đó đạp mạnh bàn đạp trên sàn xe.

2- Nhờ người đẩy xe chuyển bánh tiến lên phía trước.

3- Khi xe đã lăn bánh, hãy dậm bàn đạp nhanh và dứt khoát hơn, nhờ đó động cơ có thể nổ máy.

Hoặc kết nối bộ cáp dự phòng với xe cứu viện khác để kích hoạt động cơ. Nhưng chú ý không cố cho xe nổ máy nếu ắc quy bị hỏng hoặc thiếu a-xít.

Các bước thực hiện như sau:

1- Đưa xe cứu viện còn đầy ắc quy đỗ theo hướng đối đầu hoặc bên cạnh xe gặp trục trặc. Sau đó, lấy bộ dây cáp ra đấu cực dương và đầu cùng chiều của ắc quy xe thứ hai, và đầu dây còn lại nối với cực dương ắc quy hết điện của xe cần khởi động. Để phân biệt rõ, hãng sản xuất đánh dấu đầu cáp cực dương màu đỏ, và đầu cáp cực âm có màu đen.

2- Kết nối dây cáp cực âm với đầu điện cực âm của ắc quy xe cứu viện, và đầu dây cuối cùng với đầu cực ắc quy hết điện.

3- Cho xe cứu viện nổ máy và khởi động không tải trong ít phút. Nhờ đó, ắc quy xe không khởi động được nạp điện.

4- Tắt máy xe cứu viện và thử khởi động xe hết điện. Nếu xe vẫn chưa thể nổ máy thì hãy lặp lại bước trên cho ắc quy sạc thêm.

Khởi động xe bằng cáp dự phòng luôn là giải pháp lý tưởng cho tình trạng ắc quy hết điện. Để đơn giản hóa quy trình này, bạn có thể tìm mua thêm bộ sạc cầm tay. Khi cần, có thể tháo ắc quy ra đem vào nhà cắm điện nguồn vào sạc.

Xe360.vn (nguồn vtc)

Điều cần biết khi lái xe ban đêm

Theo những con số thống kê thì tai nạn thường xảy ra từ 12h đêm đến 6h sáng. Vì vậy, việc lái xe vào ban đêm đòi hỏi có một sự chuẩn bị, sự tỉnh táo để có thể nhận thức được mọi thứ xung quanh nhằm tạo an toàn cho bản thân bạn và gia đình bạn. Sau đây là một vài kinh nghiệm cho bạn.

* Đầu tiên cho chuyến đi là bạn hãy đảm bảo tất cả ngọn đèn trong chiếc xe của mình đều hoạt động tốt.

* Giữ sạch đèn pha và kính chắn gió để đảm bảo rằng bạn nhìn thấy rõ những chiếc xe khác và ngược lại xe khác cũng nhìn thấy bạn. Bạn hãy dành vài phút lau lại chúng lúc cho xe đỗ.

* Áp dụng quy luật 4 giây để tính tốc độ lái xe. Bạn hãy dùng điểm xa nhất mà đèn pha chiếu và đếm từ 1 đến 4 giây, nếu như bạn cho xe chạy đến điểm sáng đó chỉ trong vòng 4 giây thì coi như tốc độ của bạn hợp lý, nhưng nếu dưới 4 giây thì bạn đã lái quá tốc độ.

* Chỉ sử dụng đèn pha khi không có xe chạy ngược chiều, bởi đèn pha sẽ làm chói mắt người đối diện.

* Đừng nhìn vào đèn pha ngược chiều mà hãy tập trung vào những vật sáng hoặc góc đường phía trước.

* Đừng nhìn tập trung về phía trước, mà hãy để mắt nhìn quanh để không mỏi mắt.

* Đeo mắt kính khi lái xe ban ngày để vào ban đêm mắt bạn vẫn còn nhạy.

* Mang theo bảng hiệu có phản quang để lỡ như nếu xe bạn bị hỏng giữa đường thì đặt nó trước xe để giúp người đi đường biết xe bạn đang dừng.

* Nếu bạn mệt nhưng vẫn không có cảm giác buồn ngủ thì vẫn dành 2 tiếng để nghỉ ngơi. Không được mở nhạc lớn và nên mở cửa sổ.

* Chạy chậm khi trời nhá nhem tối, bởi khoảng thời gian này có rất nhiều người đi tản bộ để thư giãn.

Theo sggp

Thứ Bảy, 17 tháng 1, 2009

Biểt cũng chẳng thừa : Đề phòng bị cướp vợ 2

Cướp ô tô là một loại tội phạm mới xuất hiện tại nước ta những năm gần đây. Ô tô đời mới và các xe taxi thường nằm trong tầm ngắm của kẻ cướp hiện nay. Sau đây là một số kinh nghiệm có thể giúp bạn đối phó với nạn cướp xe.
· Đừng “tạo cơ hội” cho cướp
Những kẻ cướp ô tô thường chọn những cơ hội thuận lợi như lúc bạn dừng xe ở giao lộ vắng với các cửa sổ kính hạ xuống hoặc cửa xe không khóa. Những nơi thuận lợi cho cướp có thể là: các bãi đậu xe qua đêm, bãi xe của siêu thị, các trạm xăng dầu, những nơi đặt máy rút tiền tự động ATM, các đường nội bộ trong khu vực nhà ở cao cấp lúc bạn đang bước vô xe hoặc ra khỏi xe, bất cứ nơi nào lái xe phải giảm tốc độ hoặc dừng lại.
· Biện pháp phòng ngừa
Khi đang lái xe, bạn phải hết sức cảnh giác khi có người xin đi nhờ. Hãy đậu xe gần các lối đi và lề đường. Tránh đậu xe gần những nơi đổ rác, khu rừng, những xe khách và xe tải lớn, hoặc gần bất cứ cái gì hạn chế tầm nhìn của bạn.

Tránh đậu xe ở nơi ít người, hẻo lánh, thiếu ánh sáng đèn đường-đặc biệt về khuya. Phần lớn các vụ cướp ô tô xảy ra trong khoảng thời gian từ 21 giờ đến 3 giờ sáng. Bạn cần cảnh giác với nơi đậu xe không người trông coi và những ga ra có bãi đậu xe rào quanh.

Luôn đóng kín cửa sổ kính và khóa chặt các cửa xe trong lúc bạn lái xe và đặc biệt khi bạn dừng xe trong luồng lưu thông. Nếu có người lạ mặt đến gần xe, bạn đừng mở cửa sổ kính dù bất cứ lý do gì. Bạn không nên đi bộ đến xe một mình ban đêm mà cần có một người đi theo.

Nếu bạn phát hiện có người đang lảng vảng gần đó, bạn đừng đi thẳng đến xe mà hãy đi vòng theo lối khác. Hãy bước đến xe với chìa khóa chuẩn bị trong tay, không được đứng lâu tìm chìa khóa lúc đứng cạnh xe vì đây sẽ là cơ hội dễ bị cướp.

Khi bạn ở trong xe, kèn ô tô là một phương tiện ngăn chặn hữu hiệu. Nếu có người khả nghi đến gần xe bạn, hãy bóp kèn liên tiếp và không nên bước ra khỏi xe. Bọn tội phạm cướp xe không thích gây sự chú ý. Tránh lái xe một mình, nếu có thể bạn nên cho một người đi theo, nhất là ban đêm. Phải cảnh giác khi dừng xe lại để giúp người lạ có xe bị hỏng. Bạn có thể giúp bằng cách gọi điện thoại cho xe cứu hộ giao thông.
--------------------------
( Nguồn : Báo Sài Gòn )

Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2009

Thế nào là một lái xe giỏi?

Có thể bạn đã là một "tay lái lụa", nắm vững các kỹ thuật điều khiển xe. Vậy bạn hãy kiểm tra xem câu trả lời của mình có giống với câu trả lời của những người đã vượt hàng trăm nghìn km mà chưa từng xảy ra tai nạn hay không.

1. Yếu tố nào là quan trọng nhất để lái xe?

Có 2 yếu tố. Thứ nhất, đó là kỹ thuật cao. Thứ hai là khả năng phán đoán và đánh giá tình huống. Để trở thành một tài xế giỏi, cần có được hai kỹ năng này và biết áp dụng chúng đồng thời.

2. Điều gì quan trọng hơn đối với tài xế: sức khỏe hay tinh thần?

Những yếu tố này không thể tách rời nhau. Phản xạ nhanh của tài xế không chỉ phụ thuộc vào cơ bắp mà còn tùy vào nhận thức, phán đoán xem có cần thực hiện một động tác nào đó hay không.

3. Có kỹ thuật đặc biệt nào trong lái xe?

Đó là kỹ thuật “tự vệ”. Người cầm lái càng cẩn thận và bình tĩnh thì lái xe càng an toàn. Tất nhiên, kiềm chế được mình trong làn xe cộ đông đúc không phải là chuyện dễ dàng, nhưng đó mới là đức tính của một tài xế giỏi.

4. Phải giữ khoảng cách với xe khác là bao nhiêu?

Hãy chọn mốc bên đường mà chiếc xe đi trước vừa chạy qua. Nếu xe của bạn chạy qua đó trước 2 s thì có nghĩa là khoảng cách chưa đủ.

5. Vị trí tay trên vô - lăng thế nào được coi là đúng?

Nếu coi vô - lăng như mặt đồng hồ, tay trái đặt ở số 9, tay phải ở số 2. Tuy nhiên vị trí 10 và 3 được ưa thích do đảm bảo độ cơ động cao hơn và tay đỡ mỏi hơn, điều này rất quan trọng khi đi đường trường.

6. Trạng thái nào cho phép người lái sẵn sàng cho xe đi xa nhiều giờ đồng hồ?

Nếu có sự minh mẫn, phản xạ nhanh nhạy và một tư thế ngồi hợp lý, bạn có thể đi xa mà không lo lắng. Không nên ngồi co ro, mà cần thoải mái, nhưng không quá thư giãn để mất đi cảm nhận từ xe và mặt đường một cách kịp thời.

7. Có phải vận tốc tối đa ghi trên biển báo là luôn luôn đúng?

Không phải. Giới hạn vận tốc trên đường luôn được xác định đối với các điều kiện tối ưu, còn trong điều kiện giao thông đông đúc, trời tối hay đường xấu thì lẽ dĩ nhiên cần đi chậm hơn, nhưng cũng không nên đi quá chậm để tránh gây cản trở cho các xe khác. Tốt nhất nên đi cùng tốc độ như những xe khác.

8. Rẽ trái như thế nào tại các ngã tư đông xe cộ?

Bật xi nhan trước khi bắt đầu lán sang trái, cách điểm cần rẽ ít nhất 100 m, biết chắc là tất cả các xe phía sau đều tránh sang phải của mình. Khi nhường đường cho các xe chạy ngược chiều nên giữ cho hướng xe thẳng tâm đường, sát dải phân cách. Đó là nguyên tắc an toàn cơ bản của kỹ thuật lái xe. Nếu xe chếch đầu sang trái, khi bị đâm từ phía sau, sẽ bị hất sang làn đường ngược chiều.

9. Làm cách nào tránh được nguy hiểm từ các xe chạy sát phía sau?

Không nên phanh gấp để “dọa” vì không phải tài xế nào cũng kịp phản ứng. Nhưng cũng không được để xe chạy sau buộc bạn phải tăng tốc chạy quá nhanh. Tốt nhất hãy giảm tốc độ một chút cho xe sau vượt.

10. Làm gì nếu xe phía trước thu hẹp khoảng cách an toàn?

Rất thường xảy ra việc xe bạn chạy sau chiếc nào đó với khoảng cách an toàn, nhưng tài xế xe trước cố tình rút ngắn khoảng cách đó, ví dụ bạn giảm tốc độ, xe trước cũng giảm tốc độ. Khi đó phải luôn ghi nhớ rằng không bao giờ cho phép cảm xúc được vượt qua lý trí. Hãy báo hiệu xin vượt hoặc bình tĩnh giữ khoảng cách an toàn.



(Theo Ôtô Xe Máy)

Trao đổi kinh nghiệm lái xe đúc rút từ bản thân!

Phần 1: BÀN VỀ ĐI ĐƯỜNG DỐC:

- Không được bám sát xe phía trước cả khi lên và xuống dốc.
- Tuyệt đối đi đúng làn đường với những đoạn cua tay áo, khuất tầm nhìn. Đặc biệt lưu ý là các xe máy của dân địa phương hay thả dốc ầm ầm, chạy lấn làn đường nên các cụ phải lưu ý khi vào các đoạn cua tay áo. Chạy đúng làn đường rồi, nhưng cũng nên nhường thêm tý (nếu có thể).
- Giảm tốc độ đến tốc độ cần thiết trước khi vào cua. Tránh tuyệt đối vào cua tốc độ cao, đến khi bắt đầu cua mới đạp phanh giảm tốc độ, rất dễ bị văng ra ngoài, hơn nưa nếu gặp xe đi ngược chiều chạy lấn đường sẽ khó xứ lý.

LÊN DỐC:
Lên dốc thì cũng chẳng có gì để nói thêm cả. Nếu lên dốc mà vẫn chạy với xe AT nếu có các số L, 1,2,3 ... thì các cụ không nên để số D khi lên dốc mà nên về số thích hợp (tùy vào độ cao của dốc, tình hình đường xá và tình trạng giao thông). Số càng thấp thì càng an toàn. Với số MT thì cũng thế thôi.

XUỐNG DỐC:
Đây mới là cái quan trọng. Các cụ lưu ý là xuống dốc nguy hiểm hơn lên dốc gấp nhiều lần. Có hai vấn đề chính cần lưu tâm.

1) Xuống dốc xe sẽ bám đường kém hơn lên dốc nên dễ bị trượt, văng ra ngoài nếu đạp phanh gấp, hoặc vào cua tốc độ cao.
2) Do hầu hết các xe (đặc biệt là xe AT) khi xuống dốc đều bị trôi nên phải dùng phanh nhiều. Nếu rà phanh liên tục thì phanh sẽ bị nóng quá => các bộ phận loanh quanh cum phanh sẽ bị nướng chín, đôi khi còn phát hỏa gây cháy. Do đó, khi xuống dốc đều phải phanh kết hợp: Dùng cả phanh chân và phanh bằng động cơ (phanh bằng số).

Tóm lại, khi xuống dốc cần lưu ý hai điều:
- Không chạy tốc độ cao (cái này em đã lưu ý ở trên rồi, nhưng nói thêm ở đây nữa vì xuống dốc mà chạy tốc độ cao thì nguy hiểm hơn gấp nhiều lần).
- Không rà chân phanh liên tục mà phải phanh kết hợp.

Phần 2: BÀN VỀ PHANH KHI XUỐNG ĐÈO DỐC

Phải luôn luôn kiểm nghiệm những cảm giác của bản thân khi cầm lái:
+ Cảm giác về khoảng cách,
+ Cảm giác về tốc độ,
+ Cảm giác về độ căng của bánh xe,
+ Cảm giác về hệ thống giảm xóc của xe,
+ Cảm giác về tiếng động cơ,...
===> Nói một cách văn vẻ là người lái xe phải hòa mình vào chiếc xe như là một bộ phận của chiếc xe đó.
- Với những bác lần đầu tiên đi đường đèo dốc, đặc biệt là lại đi xe AT, thi em khuyên các bác một câu chân thành là nên mang theo mấy chai nước loại 3lít. Khi xuống dốc, các bác cảm thấy hình như mình rà phanh hơi nhiều thì nên dừng lại (Tuyệt đối không dừng ở đoạn đường cua, kể cả chỗ đó có rộng bao nhiêu đi chăng nữa) và sờ thử vào 4 lazăng xem sao, nếu thấy nóng quá thì cách xử lý phanh của các bác đã có vấn đề rồi, lúc đó mang chai nước mà đỏ vào 4 cụm phanh, nếu không có nước thì phải chờ cho 4 cụm phanh nguội mới đi tiếp được.
- Khi xuống dốc, quan trọng nhất là không được rà phanh liên tục mà phải kết hợp giữa phanh chân và phanh bằng số. Với những đoạn của gấp thì phải phanh để xe giảm xuống tốc độ phù hợp trước khi bắt đầu vào cua, không nên bắt đầu vào cua mới phanh, rât nguy hiểm.
- Với xe MT thì việc xử lý kết hợp giữa phanh và số không có gì phức tạp. Nhưng với xe AT thi khó hơn nhiều. Để có cảm giác sử dụng số AT khi đi đường đèo dốc thì các bác nên luyện tập sử dụng chế độ Manual (hay còn gọi là chế độ Sport - tùy hãng) khi đi đường bằng. Muốn giảm tốc độ, các bác không dùng phanh mà chuyển sang chế độ Manual rồi dồn số xem phản ứng của xe mình thế nào. Mỗi xe sẽ có phản ứng khác nhau với việc dồn số ở chế độ này. Điều quan trọng nhất các bác lưu ý là độ trễ khi dồn số. Nhiều xe phải mất đến 2~3 giây sau khi các bác gạt cần số thì xe mới chuyển xuống số thấp hơn. Nếu không có cảm giác chính xác về chế độ hoạt động của hộp số tự động của xe minh thì khó mà áp dụng việc dồn số đối với việc đi đường đèo dốc được.
Tuy nhiên, khi đi đường đèo dốc thì không nên dồn số để thay phanh.
- Khi muốn giảm tốc độ: Phanh rồi mới về số rồi giữ đều ga. Với những số thấp thì việc điều chỉnh tốc độ bằng chân ga rất hiệu quả, tuy nhiên cũng đòi hỏi sự điều khiển chân ga chính xác và nhạy cảm.

Phần 3: CẢM GIÁC LÁI
CẢM GIÁC LÁI là gì?
Trước khi nói về cảm giác lái thì xin hỏi các bác một vài điều:
+ Khi các bác chạy trên đường bị nghiêng sang một bên thì các bác có cảm giác là tay lái bị kéo sang bên đó hay không ạ?
+ Khi chèn lên một hòn đá hay chạy qua một ổ gà các bác có cảm thấy tay lái hơi bị giật nhẹ không ạ?
Vậy cảm giác lái chính là cảm giác với những lực phản hồi từ mặt đường lên vô lăng.
+ Khi các bác chịu khó để ý lực phản hồi từ vô lăng, các bác có thể cảm nhận được độ nhám của đường, sự trơn trượt của bánh xe khi đi trên đường trơn hay những vật cản mà bánh xe trèo lên.
+ Tuy nhiên, để cảm nhận được tình hình về đường xá thì cảm giác từ tay lái là chưa đủ. Nó phải tổng hợp từ tất cả các giác quan của các bác: Từ mắt nhìn đường, từ tai để nghe các tiếng động, từ cơ thể để cảm giác về xe và đường xá.
===> Tóm lại: Mục đích của cái gọi là Cảm giác lái chính là những thông tin để các bác đưa ra phương án xử lý thích hợp với tình trạng đường xá mà xe đang đi qua.
CẢM GIÁC LÁI: HAI MẶT CỦA MỘT VẤN ĐỀ
+ "Đánh lái chết", nghĩa là xoay vô lăng khi xe đứng tại chỗ. Lý do là xoay vô lăng khi xe đứng tại chỗ sẽ làm cho lốp nhanh mòn và hệ thống lái sẽ nhanh bị hỏng.
+ Cảm giác lái là việc cảm nhận những lực phản hồi từ mặt đường lên vô lăng. Như vậy, đối với những xe có trợ lực nhiều hơn thì tay lái sẽ nhẹ hơn (dòng xe Nhật), tuy nhiên lực phản hồi từ mặt đường sẽ ít hơn và làm cho cảm giác lái sẽ "không thật". Ngược lại, với dòng xe Âu, Mỹ thì cảm giác lái tốt hơn, nhưng vô lăng sẽ nặng hơn.
Kết luận tạm thời là xe càng trợ lực lái nhiều thì cảm giác lái sẽ càng kém đi.

Vấn đề ngược lại: Với những xe có cảm giác lái tốt là những xe có lực phản hồi từ mặt đường lên vô lăng tốt hơn. Tuy nhiên, nó có tính hai mặt của nó. Các bác đã bao giờ có cảm giác vô lăng bị giật một cái khi bánh trước chèn vào hòn gạch hay hòn đá hoặc vô lăng cứ như bị ai đó kéo giằng sang một bên khi bánh xe chạy vào một sống trâu, một đường rãnh hay khi leo lên vỉa hè mà chạy chéo. Lúc này các bác mà không chắc tay lái thì rất dễ bị tuột tay khỏi vô lăng. Mặt trái của những xe có "cảm giác lái" tốt lúc này lại là lực tác động trái chiều lên vô lăng sẽ lớn hơn những xe có cảm giác lái kém hơn do trợ lực lái của ít hơn.

Vì vậy, các bác nên chú ý mấy điều sau:
- Với những xe có cảm giác lái tốt: Việc giữ chặt vô lăng khi xe chạy trên đường gồ ghề là rất cần thiết. Đặc biệt, khi vào cua với tốc độ cao nên giữ vô lăng bằng hai tay vì xe rất dễ bị "cướp lái" nếu bánh trước chạy qua hòn gạch, đá hay ổ gà.
- Với xe có cảm giác lái nhẹ: Khi chạy tốc độ càng cao thì tay lái lại càng nhẹ nên dễ xảy ra hiện tượng đánh quá lái hoặc đánh lái quá đột ngột. Khi chạy trên đường trường với tốc độ cao nên cầm lái thấp xuống một chút, tốt nhất là cầm hai tay theo vị trí 3g-9g(hoặc 10g).
- Không nên vừa còi vừa lái xe bằng một tay.
Nói chung, khi cầm lái xe nên hiểu rõ những tính năng và khả năng của xe mình cũng như các giới hạn của xe để có những thao tác hợp lý.

Phần 4: LÁI XE TRÊN ĐƯỜNG TRƠN TRƯỢT:
Theo một khái niệm chính xác thì ĐƯỜNG TRƠN TRƯỢT có nghĩa là đường có độ ma sát thấp. Do đó, nó bao gồm cả đường trơn do bùn đất khi trời mưa và đường trơn do có nhiều sỏi đá:
TÁC DỤNG CỦA PHANH XE:
- Nói đến phanh thì ai cũng biết là dùng để hãm tốc độ của xe bằng việc tác dụng một lực ngược chiều với chuyển động của xe qua tác dụng ma sát của lốp xe với đường. Tuy nhiên, có một điều mà ít bác để ý tới đó là tác dụng của phanh xe như thế nào.

- Phanh trước: Là phanh chống văng ngang, nhưng lại dễ bị trượt dọc.
- Phanh sau : chống trượt dọc, nhưng dễ bị văng ngang.
- Điều này với 2B thì cực kỳ quan trọng. Bác nào để ý là nếu chỉ đạp phanh sau thì xe sẽ bị văng ngang, còn nếu chỉ bóp phanh trước thì xe bị trượt dọc. Đặc biệt với xe phanh dầu (phanh đĩa) khi vào cua mà chỉ dùng phanh trước là bị trượt văng ra và bị đổ xe ngay. Nên với 2B, đặc biệt với xe phanh đĩa thì khi phanh phải dùng cả hai phanh. Một số xe ga hiện nay có một cơ cấu gọi là phanh kết hợp (combinated brake), khi bóp một phanh thì cơ cấu đó sẽ kéo phanh còn lại. Xe cao cấp hơn thì có hệ thống kết hợp bằng thủy lực (phanh dầu cả trước và sau, điều chỉnh bằng van tiết lưu).
- Đối với ô tô thì điều này có vẻ không quan trọng vì nhà sản xuất đã tính toán sẵn phân bố lực phanh hợp lý (thường là 60% cho bánh trước và 40% cho bánh sau). Hơn nữa, có thếm những hệ thống hỗ trợ phanh nữa như ABS, hệ thống phân bổ lực phanh tự động, .v.v. nên người lái xe hầu như không cần quan tâm đến việc lực phanh phân bố như thế nào. Tuy nhiên, với một số kỹ thuật cao cấp thì việc này lại quan trọng, chủ yếu là tận dụng lực văng của đuôi xe bằng việc sử dụng phanh tay. Vì phanh tay chỉ phanh bánh sau, khi kéo phanh tay đột ngột thì đuôi xe sẽ bị văng sang một bên. Cái này như em đã nói ở trên: phanh sau dễ bị văng ngang.
ĐI VÀO VẤN ĐỀ CHÍNH:
"NỖI SỢ HÃI" (như của một số bác đề cập đến) khi đi trên hai loại đường là đường trơn và đường nhiều sỏi đá (theo định nghĩa thì cũng là một thôi) là các thao tác lái xe không còn chính xác nữa. Xe chuyển động theo những quỹ đạo nhiều khi rât kỳ lạ và những kinh nghiệm lái xe thông thường có vẻ không còn phù hợp. Vậy thì phải làm sao?
PHÂN LOẠI ĐƯỜNG TRƠN TRƯỢT:
Có nhiều cách phân loại, ví dụ như theo mức độ trơn trượt (độ ma sát ít hay nhiều),.v.v. Nhưng theo kinh nghiệm của em thì có hai loại chính:
- Đường trơn trượt nhưng có địa hình bằng phẳng.
- Đường trơn trượt có địa hình phức tạp, nhiều sống trâu, ổ voi.
Với loại đường thứ nhất thì thường chỉ xảy ra hiện tượng xe chuyển động không tuân theo sự điều khiển của tay lái, đuôi xe bị văng ra phía ngoài khi vào cua.
Còn với loại đường thứ hai thì ngoài hiện tượng nêu trên, xe còn bị trượt sang hai bên do bánh xe nào đó trèo lên một sống trâu bị trượt xuống (hơi nôm na một chút, chắc là các cụ hiểu được)
Do đó, việc chạy xe trên loại đường thứ hai sẽ khó và nguy hiểm hơn nhiều lần.

LÁI XE TRÊN ĐƯỜNG TRƠN TRƯỢT:
Khi đi trên đường trơn thì lái xe phải lưu ý điểm lớn nhất là tất cả các giới hạn về đều giảm xuống nhiều khi đến mức thấp nhất.
+ Như giới hạn về tốc độ khi vào cua,
+ Giới hạn về lực gây ra hiện tượng "quá ga" (Over power - em đã phân tích ở phần trước),
===> Trong nhiều tình huống thì hệ thống TCS hầu như mất tác dụng, và hay xảy ra hiện tượng ba-ti-nê do tác dụng của bộ vi sai. Điều quan trọng nữa là do giới hạn về ma sát giảm xuống nên phanh rất dễ bị mất tác dụng do lực tác dụng từ bánh xe lên mặt đường lớn hơn giới hạn của lực ma sát, khi đó xe sẽ bị trượt trên đường (về lý thuyết thì xe sẽ bị trượt ra theo hướng tiếp tuyến với vòng tròn vào cua của xe).
KINH NGHIỆM:
Đối với loại đường thứ nhất (đường bằng phẳng):
- Điều đầu tiên là phải đi chậm, cảm nhận dần dần các giới hạn về lực ma sát (độ bám của bánh xe lên mặt đường), khi đã cảm nhận được rồi thì nên đi thấp hơn tốc độ mình cảm nhận một chút. Với điều này thì cái gọi là "Cảm giác lái" rất quan trọng.
- Không phanh khi vào cua mà phải phanh để xe giảm đến tốc độ dưới giới hạn trước khi vào cua. Tình huống này khi đi 4B thì gần giống với 2B vào cua chỉ dùng phanh trước do lực phanh phân bố nhiều hơn vào bánh trước. Xe sẽ bị trượt thẳng ra phía trước. Với những đoạn đường hẹp thì đồng nghĩa với việc bị trượt ra ngoài (ai mà biết trước được nó có cái gì ở đó chứ).
- Khi xe có biểu hiện không tuân theo điều khiển của vô lăng thì không được đạp phanh mà phải giảm ga, đánh lái theo hướng chuyển động của xe (cái này gần giống áp dụng kỹ thuật drift), không nên cố đánh lái theo hướng mình mong muốn. Đến khi có cảm giác bánh trước bám đường rồi mới đánh lái trở lại. Thực ra điều này nói thì dễ, nhưng thực hành thì hơi khó. Do đó, nếu các bác mà đi với tốc độ cao (cao là so với tình trạng thực tế của đường xá chứ không phải tính bằng con số 40 hay 60km/h ) thì rất khó thực hiện được thao tác này. Nên kinh nghiệm của em là nên đi chậm hơn cảm giác của mình một chút cho nó an toàn.
- Đường trơn trượt là đường không cho phép các cú phanh gấp, nên việc quan sát đường phải cẩn thận. Nên xử lý non (xử lý sớm các tính huống), đừng để đưa mình vào tình huống phải phanh gấp.
Đối với đường trơn mà lại có địa hình phức tạp:
Kinh nghiệm nói chung cũng như trên và bổ xung thêm những điều dưới đây:
- Như em đã nói ở trên, đường có địa hình phức tạp thì xe nhiều khi bị trượt sang hai bên. Khi đó các bác đừng cố đạp phanh hoặc đánh lái cho xe trở lại hướng cũ. Cứ giảm ga, để nó trượt hết đi (chỉ một chút thôi) khi xe đã ổn định trở lại thì mới thao tác tiếp.
- Khi đi qua một vũng bùn hoặc một ổ voi có nhiều nguy cơ gây ra hiện tượng ba-ti-nê thi trước khi đi vào đó nên tăng tốc độ lên một chút, khi bánh chủ động đã nằm trong vũng bùn rồi thì giữ đều ga, không đạp thốc ga lên mà dễ làm xe bị quá ga hoặc ba-ti-nê, khi bánh chủ động bắt đầu đến mép bên kia của ổ voi thì đạp nặng ga thêm một chút, thêm chút động năng cho xe để xe vượt qua.
- Đường trơn trượt mà có địa hình phức tạp thì đòi hỏi sự quan sát tình hình đường xá phải cẩn thận hơn. Đôi khi có những chướng ngại vật như xe thồ, xe máy, hay một chiếc xe ngược chiều nào đó chiếm mất phần đường khô ráo hơn (ít trơn trượt hơn) thì nên để họ đi qua xong rồi mình sẽ đi vào chỗ đó (nhiều khi phải lấn sang làn đường bên trái), không cố đi làm gì.

Phần 5: Về việc đang đi đường dốc mà phải xử lý số:
- Đối với việc sang số cao hơn: Em nghĩ là trường hợp này cũng dễ xử lý thôi, các bác dùng số thấp thấy động cơ bị dư tải, lúc này không nên sang số ngay mà chạy tăng tốc lên một chút cho xe có đà, khi nào cảm thấy ngắt côn mà xe không bị dừng lại và trôi ngược xuống dốc thì mới sang số. Cái này chủ yếu cần thao tác nhanh, chính xác và dứt khoát. Nếu không, thời gian sang số lâu quá thì xe sẽ bị mất động năng và dừng lại. Khi đó nó sẽ giống trường hợp thứ hai dưới đây.
- Khi xe bị thiếu động năng phải về số thấp hơn: Đây là một thao tác khó, đặc biệt trong trường hợp bò lên dốc cao, đường đông, xe lại chở nặng. (Đây cũng là lý do mà khi lên dốc không nên bám đuôi xe trước, dốc càng cao, xe trước càng nặng thì càng phải tránh xa). Về mặt nguyên tắc thì không nên để rơi vào tình huống này. Việc xác định số nào phù hợp cho xe lên dốc phải xác định trước khi đi vào đoạn dốc đó, đặc biệt là các đoạn cua mà độ dốc lớn. Phải về số thích hợp trước khi đi vào đoạn dốc đó, khi mà xe đang còn dư động năng và quán tính xe đủ lớn cho việc ngắt côn và sang số.

Tuy nhiên, trong trường hợp đi vào đoạn dốc rồi mới thấy xe không đủ động năng, xe ỳ ra và cảm thấy máy không tải được nữa. Tình huống này có mấy cách xử lý sau:
1) Nếu xe chỉ hơi thiếu động năng mà thao tác chuyển số của lái xe chưa thuần thục lắm thì có thể áp dụng kỹ thuật "đỡ côn" hay còn gọi là "vê côn". Đạp nhẹ chân côn và đạp mạnh thêm chân ga một chút. Cái này giải thích bằng lời thì hơi khó. Các bác cứ kiểm nghiệm thử trên đường bằng trước rồi sẽ có cảm giác về kỹ thuật này.
Tuy nhiên, đây là kỹ thuật không nên áp dụng vì hai lý do:
+ Thứ nhất: Hại xe do các lá côn bị mài mòn nhanh. Nếu xử lý không khéo có thể làm cháy các lá côn.
+ Thứ hai: Nếu thao tác không chính xác mà đạp chân côn quá thì lại thành cắt côn, xe không còn động năng, dễ bị dừng lại và trôi ngược xuống dốc.
2) Cách xử lý hợp lý nhất: khi mới cảm thấy xe hơi thiếu động năng, số đang đi không phù hợp thì nên về số ngay khi xe còn quán tính lớn.
3) Nếu trường hợp xe đã ỳ ra rồi, không đủ quán tính để về số: Trường hợp này nên dừng hẳn xe lại, không nên về số vội vàng mà dễ dẫn đến làm mẻ bánh răng số. Khi xe đã dừng rồi thì giống như là bài tập Depart lên dốc thôi.
Kéo phanh tay => Về số 1 => nhả côn từ từ đồng thời tăng thêm chân ga => khi xe bắt đầu chuyển động thì nhả dần phanh tay. (em lưu ý thêm là chỉ nhả dần phanh tay khi xe đã chuyển động).
Trường hợp mà dốc cao, xe chở nặng thì nhiều khi phanh tay sẽ không đủ lực để giữ xe lại. Khi các bác nhả chân phanh ra để đạp côn thì xe bị trôi ngược. Trường hợp này không nên mất bình tĩnh, nên đạp nặng ga hơn một chút và nhả chân côn nhiều hơn một chút là xe sẽ dừng lại và chuyển động ra phía trước ngay, khi đó mới bắt đầu nhả từ từ phanh tay.
LƯU Ý: Một lưu ý cực kỳ quan trọng là với các đoạn đường cua gấp mà dốc lại cao thì tuyệt đối phải về số trước khi vào cua, tốt nhất là cứ về số 1 cho nó

Phần 6: Có 2 kỹ thuật vào cua tốc độ cao:
FAST IN - SLOW OUT: Các bác chạy với tốc độ cao vào cua thì gần đến điểm giữa vòng cua sẽ phải đạp phanh vì tốc độ cao quá mà không đệm phanh thì sẽ bị văng ra ngoài, do đó tốc độ khi ra khỏi cua sẽ thấp hơn tốc độ vào cua nên gọi là Fast In - Slow Out.
SLOW IN - FAST OUT: thì ngược lại, các bác vào cua với tốc độ vừa phải, bám cua đều, không cần đệm phanh, đến điểm giữa vòng cua thì tăng tốc nên tốc độ ra khỏi vòng cua sẽ nhanh hơn tốc độ vào của nên gọi là Fast Out.










Thơ bút tre (Sưu tầm)

*Gió mùa thu anh ru em ngủ - Em ngủ rui`……anh cạy tủ anh đi!!!!

*Nhận được thư em lúc nhá nhem - Mừng mừng tủi tủi mở ra xem
Trong thư em viết dăm ba chữ - “Anh ơi ngày mai nó lấy em”

*Học trò ngày nay quậy tới trời - 10 thằng đi học 9 thằng chơi
3 thằng đến lớp 2 thằng ngủ - Còn lại thằng kia cũng gật gù

*Bước chân dô quán đèn mờ - Ngồi gần con gái không sờ là ngu!!
Thà rằng cắt tóc đi tu - Ngồi gần con gái ….. ngu sao không sờ!!

*Làm trai cho đáng nên trai - Lang beng cũng trải giang mai cũng từng!!!

*Hôm qua anh đến nhà em - Ra về mới nhớ để quên 5000
Anh quay trở lại vội vàng - Em còn ngồi đó, 5000 …mất tiêu

*Gái ơi đừng lấy chồng gù - Đến khi nó chết quan tài so le

*Anh xây em = cát - Rồi hôn em 1 phát - Ôi nụ hôn chua chát - Toàn là đất với cát

*Trên trời có 1 vì sao - Dưới đất có 1 mình tao anh hùng
Anh hùng thì mặc anh hùng - Tao đây lên tiếng anh hùng phải im.

*Trên trời có đám mây xanh - Ở giữa mây trắng xung quanh mây vàng.
Nếu mà anh lấy phải nàng - Anh thà thắt cổ cho nàng ở không.

*Giám thị nhìn em giám thị cười - Em nhìn giám thị lệ tuôn rơi
Cỗng trường đại học cao vời vợi - Đồng ruộng mênh mông đón em về

*Ta về ta tắm ao ta dù trong dù đục cũng là cái ao.

*Làm trai cờ bạc rượu chè - Vợ có lè nhè thì ghè nó luôn

*Rượu này từ gạo mà ra - Ta đây uống rượu cũng là ăn cơm

*Này cô con gái nhà ai Cớ sao dám hái hoa nhài nhà tôi
Hái rồi thì hãy …lấy thôi - Còn chưa hái được để tôi…hái dùm

*Trước cổng nhà thờ,anh và em… - Hai đứa hôn nhau,Chúa đứng xem…
Giật mình Chúa bảo:này hai đứa! - Hôn nhau như thế…Chúa cũng…thèm.

*Chán dời cắt tóc đi tu - Nghĩ đi nghĩ nghĩ lại … đi tù sướng hơn
trong tù làm chủ giang sơn - một căn phòng đá với dăm ba thằng
thằng nào cũng có khiếu năng - thằng thì giỏi hoạ thằng thì làm thơ
Có thằng lại đứng ngẩn ngơ - Vì sao ta lại trở vô nhà tù??

*Con quỳ lạy chúa trên trời - Sao cho con lấy được người con yêu
Sau khi con lấy được rồi - Con không đi lễ chúa làm gì con

*Lạy thượng đế bao giờ con hết khổ! - Tổ cha mày con khổ mãi nghe con

*Để tiền trong túi làm chi - Mua liều thuốc chuột phòng khi hết tiền

*Trên đồng cạn dưới đồng sâu - Vợ chồng cấy cấy là thằng cu ra đời

*Sức khoẻ là vô giá. Hột xoàn mới có giá.

*Học không yêu yếu dần rồi chết - Yêu không học không ngóc được lên

*Vầng trăng ai xẻ làm đôi - Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường.
đêm qua anh ngủ trên giường - Nhớ em tỉnh giấc, lọt giường gãy xương.

*Học làm chi,thi làm gì - Tú Xương còn rớt,huống chi là mình

” 1 canh 2 canh lại 3 canh
Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành
Canh 4 canh 5 vừa chợp mắt
Bà xã gọi dậy : làm đi anh”

*Vũ trường là chốn ăn chơi - Chí Hoà là chỗ nghỉ ngơi giang hồ.

*Học cho lắm tắm hổng có quần thay - Học cho hay tắm thay hoài cái quần cũ.

*Quanh năm hút chích ở mom sông,
Hít đủ năm phân chích một liều
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Ỉu xìu bủng bẻo buổi tuần tra,
Một duyên hai nợ âu đành phận.
Năm nắng mười mưa chẳng bỏ chơi,
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có tiền hổng chích cũng như không…

*Học cho lắm cũng ăn mắm với cà - Học tà tà cũng ăn cà với mắm
Học cho lắm cũng đi tắm cởi truồng - Học luồn xuồn cũng cởi truồng đi tắm

*Cam sành lột vỏ còn chua - Thấy em còn nhỏ anh cua để dành.

*Bắt đầu ngủ giữa tiết 3 - Đến khi tỉnh giấc đã là tiết 5

*Một buổi chiều gió mát
Vẽ hình em trên cát
Thì bị ăn một tát
Của một con bồ khác
Nãy giờ đang quan sát
Anh còn đang ngơ ngác
Liền ăn thêm một tát
Ôi tình yêu trên cát !!!
Thật là chua và chát .

*Học hành như cá kho tiêu - Kho nhiều thì mặn học nhiều thì ngu!

*Con mèo mà trèo cây cau hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ đằng xa, em là cô chuột ,vào nhà đi anh

*Học làm gì cho đầu to mắt trố - Về lấy vợ cho dân số tăng nhanh

*Cứ vui chơi cho hết đời trai trẻ - Rồi âm thầm lặng lẽ đạp xích lô

*Mình vì mọi người.. mọi người coi mình như mọi

*Ăn tranh thủ - ngủ khẩn trương - học bình thường - yêu đương là chính

*Ai mua tui bán cây…si - si tui tốt giống cành chi chít cành,
Hễ si mà gặp đất lành - Là si phát triển trở thành ..siđa

*Râu tôm nấu với ruột bầu -Chồng ăn nhổ toẹt lầu bầu chê ngu!

*Quân tử đắn đo là quân tử dại quân tử ..làm đại là quân tử khôn

*Thu đi để lại lá vàng anh đi để lại cho nàng thằng cu

*Đi thi để biết phòng thi vô thi để biết để thi thui mà

*Khi xưa vác bút theo thầy bi giờ em lại vác cày theo trâu