Hiển thị các bài đăng có nhãn Ô tô - kỹ thuật lái xe. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ô tô - kỹ thuật lái xe. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 17 tháng 3, 2009

Thứ Ba, 20 tháng 1, 2009

Cách khởi động khi xe ôtô hết ắc quy

Nếu bỗng dưng xe ôtô của bạn không khởi động được, nguyên nhân có thể do ắc quy đã hết. Những thông tin sau sẽ giúp bạn tự xử lý được tình huống ngoài mong muốn này.

Tác nhân cơ bản gây hết điện ắc quy bao gồm: Hệ thống đèn pha, đèn nội thất, đèn xi nhan, máy điều hòa và dàn âm thanh bật khi xe không chạy. Để xe trong gara một thời gian dài không khởi động. Thiếu bảo dưỡng định kỳ ngăn đựng ắc quy dẫn đến tình trạng kém vệ sinh. Cầu đi-ốt hoặc bộ nạp điện ắc quy hỏng trong khi xe chạy. Nhiệt độ thấp cũng khiến cho dung dịch ắc quy bị đông cứng.

Một trong những biện pháp thường được áp dụng cho tình trạng này là nhờ người đẩy cho xe chuyển bánh nổ máy. Thao tác này dành cho các mẫu xe sử dụng bộ số tay.

Để thực hiện, cần làm các bước sau:

1- Vặn khóa đánh lửa về vị trí sẵn sàng làm việc, cài số thứ nhất cho hộp số, và sau đó đạp mạnh bàn đạp trên sàn xe.

2- Nhờ người đẩy xe chuyển bánh tiến lên phía trước.

3- Khi xe đã lăn bánh, hãy dậm bàn đạp nhanh và dứt khoát hơn, nhờ đó động cơ có thể nổ máy.

Hoặc kết nối bộ cáp dự phòng với xe cứu viện khác để kích hoạt động cơ. Nhưng chú ý không cố cho xe nổ máy nếu ắc quy bị hỏng hoặc thiếu a-xít.

Các bước thực hiện như sau:

1- Đưa xe cứu viện còn đầy ắc quy đỗ theo hướng đối đầu hoặc bên cạnh xe gặp trục trặc. Sau đó, lấy bộ dây cáp ra đấu cực dương và đầu cùng chiều của ắc quy xe thứ hai, và đầu dây còn lại nối với cực dương ắc quy hết điện của xe cần khởi động. Để phân biệt rõ, hãng sản xuất đánh dấu đầu cáp cực dương màu đỏ, và đầu cáp cực âm có màu đen.

2- Kết nối dây cáp cực âm với đầu điện cực âm của ắc quy xe cứu viện, và đầu dây cuối cùng với đầu cực ắc quy hết điện.

3- Cho xe cứu viện nổ máy và khởi động không tải trong ít phút. Nhờ đó, ắc quy xe không khởi động được nạp điện.

4- Tắt máy xe cứu viện và thử khởi động xe hết điện. Nếu xe vẫn chưa thể nổ máy thì hãy lặp lại bước trên cho ắc quy sạc thêm.

Khởi động xe bằng cáp dự phòng luôn là giải pháp lý tưởng cho tình trạng ắc quy hết điện. Để đơn giản hóa quy trình này, bạn có thể tìm mua thêm bộ sạc cầm tay. Khi cần, có thể tháo ắc quy ra đem vào nhà cắm điện nguồn vào sạc.

Xe360.vn (nguồn vtc)

Điều cần biết khi lái xe ban đêm

Theo những con số thống kê thì tai nạn thường xảy ra từ 12h đêm đến 6h sáng. Vì vậy, việc lái xe vào ban đêm đòi hỏi có một sự chuẩn bị, sự tỉnh táo để có thể nhận thức được mọi thứ xung quanh nhằm tạo an toàn cho bản thân bạn và gia đình bạn. Sau đây là một vài kinh nghiệm cho bạn.

* Đầu tiên cho chuyến đi là bạn hãy đảm bảo tất cả ngọn đèn trong chiếc xe của mình đều hoạt động tốt.

* Giữ sạch đèn pha và kính chắn gió để đảm bảo rằng bạn nhìn thấy rõ những chiếc xe khác và ngược lại xe khác cũng nhìn thấy bạn. Bạn hãy dành vài phút lau lại chúng lúc cho xe đỗ.

* Áp dụng quy luật 4 giây để tính tốc độ lái xe. Bạn hãy dùng điểm xa nhất mà đèn pha chiếu và đếm từ 1 đến 4 giây, nếu như bạn cho xe chạy đến điểm sáng đó chỉ trong vòng 4 giây thì coi như tốc độ của bạn hợp lý, nhưng nếu dưới 4 giây thì bạn đã lái quá tốc độ.

* Chỉ sử dụng đèn pha khi không có xe chạy ngược chiều, bởi đèn pha sẽ làm chói mắt người đối diện.

* Đừng nhìn vào đèn pha ngược chiều mà hãy tập trung vào những vật sáng hoặc góc đường phía trước.

* Đừng nhìn tập trung về phía trước, mà hãy để mắt nhìn quanh để không mỏi mắt.

* Đeo mắt kính khi lái xe ban ngày để vào ban đêm mắt bạn vẫn còn nhạy.

* Mang theo bảng hiệu có phản quang để lỡ như nếu xe bạn bị hỏng giữa đường thì đặt nó trước xe để giúp người đi đường biết xe bạn đang dừng.

* Nếu bạn mệt nhưng vẫn không có cảm giác buồn ngủ thì vẫn dành 2 tiếng để nghỉ ngơi. Không được mở nhạc lớn và nên mở cửa sổ.

* Chạy chậm khi trời nhá nhem tối, bởi khoảng thời gian này có rất nhiều người đi tản bộ để thư giãn.

Theo sggp

Thứ Bảy, 17 tháng 1, 2009

Biểt cũng chẳng thừa : Đề phòng bị cướp vợ 2

Cướp ô tô là một loại tội phạm mới xuất hiện tại nước ta những năm gần đây. Ô tô đời mới và các xe taxi thường nằm trong tầm ngắm của kẻ cướp hiện nay. Sau đây là một số kinh nghiệm có thể giúp bạn đối phó với nạn cướp xe.
· Đừng “tạo cơ hội” cho cướp
Những kẻ cướp ô tô thường chọn những cơ hội thuận lợi như lúc bạn dừng xe ở giao lộ vắng với các cửa sổ kính hạ xuống hoặc cửa xe không khóa. Những nơi thuận lợi cho cướp có thể là: các bãi đậu xe qua đêm, bãi xe của siêu thị, các trạm xăng dầu, những nơi đặt máy rút tiền tự động ATM, các đường nội bộ trong khu vực nhà ở cao cấp lúc bạn đang bước vô xe hoặc ra khỏi xe, bất cứ nơi nào lái xe phải giảm tốc độ hoặc dừng lại.
· Biện pháp phòng ngừa
Khi đang lái xe, bạn phải hết sức cảnh giác khi có người xin đi nhờ. Hãy đậu xe gần các lối đi và lề đường. Tránh đậu xe gần những nơi đổ rác, khu rừng, những xe khách và xe tải lớn, hoặc gần bất cứ cái gì hạn chế tầm nhìn của bạn.

Tránh đậu xe ở nơi ít người, hẻo lánh, thiếu ánh sáng đèn đường-đặc biệt về khuya. Phần lớn các vụ cướp ô tô xảy ra trong khoảng thời gian từ 21 giờ đến 3 giờ sáng. Bạn cần cảnh giác với nơi đậu xe không người trông coi và những ga ra có bãi đậu xe rào quanh.

Luôn đóng kín cửa sổ kính và khóa chặt các cửa xe trong lúc bạn lái xe và đặc biệt khi bạn dừng xe trong luồng lưu thông. Nếu có người lạ mặt đến gần xe, bạn đừng mở cửa sổ kính dù bất cứ lý do gì. Bạn không nên đi bộ đến xe một mình ban đêm mà cần có một người đi theo.

Nếu bạn phát hiện có người đang lảng vảng gần đó, bạn đừng đi thẳng đến xe mà hãy đi vòng theo lối khác. Hãy bước đến xe với chìa khóa chuẩn bị trong tay, không được đứng lâu tìm chìa khóa lúc đứng cạnh xe vì đây sẽ là cơ hội dễ bị cướp.

Khi bạn ở trong xe, kèn ô tô là một phương tiện ngăn chặn hữu hiệu. Nếu có người khả nghi đến gần xe bạn, hãy bóp kèn liên tiếp và không nên bước ra khỏi xe. Bọn tội phạm cướp xe không thích gây sự chú ý. Tránh lái xe một mình, nếu có thể bạn nên cho một người đi theo, nhất là ban đêm. Phải cảnh giác khi dừng xe lại để giúp người lạ có xe bị hỏng. Bạn có thể giúp bằng cách gọi điện thoại cho xe cứu hộ giao thông.
--------------------------
( Nguồn : Báo Sài Gòn )

Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2009

Thế nào là một lái xe giỏi?

Có thể bạn đã là một "tay lái lụa", nắm vững các kỹ thuật điều khiển xe. Vậy bạn hãy kiểm tra xem câu trả lời của mình có giống với câu trả lời của những người đã vượt hàng trăm nghìn km mà chưa từng xảy ra tai nạn hay không.

1. Yếu tố nào là quan trọng nhất để lái xe?

Có 2 yếu tố. Thứ nhất, đó là kỹ thuật cao. Thứ hai là khả năng phán đoán và đánh giá tình huống. Để trở thành một tài xế giỏi, cần có được hai kỹ năng này và biết áp dụng chúng đồng thời.

2. Điều gì quan trọng hơn đối với tài xế: sức khỏe hay tinh thần?

Những yếu tố này không thể tách rời nhau. Phản xạ nhanh của tài xế không chỉ phụ thuộc vào cơ bắp mà còn tùy vào nhận thức, phán đoán xem có cần thực hiện một động tác nào đó hay không.

3. Có kỹ thuật đặc biệt nào trong lái xe?

Đó là kỹ thuật “tự vệ”. Người cầm lái càng cẩn thận và bình tĩnh thì lái xe càng an toàn. Tất nhiên, kiềm chế được mình trong làn xe cộ đông đúc không phải là chuyện dễ dàng, nhưng đó mới là đức tính của một tài xế giỏi.

4. Phải giữ khoảng cách với xe khác là bao nhiêu?

Hãy chọn mốc bên đường mà chiếc xe đi trước vừa chạy qua. Nếu xe của bạn chạy qua đó trước 2 s thì có nghĩa là khoảng cách chưa đủ.

5. Vị trí tay trên vô - lăng thế nào được coi là đúng?

Nếu coi vô - lăng như mặt đồng hồ, tay trái đặt ở số 9, tay phải ở số 2. Tuy nhiên vị trí 10 và 3 được ưa thích do đảm bảo độ cơ động cao hơn và tay đỡ mỏi hơn, điều này rất quan trọng khi đi đường trường.

6. Trạng thái nào cho phép người lái sẵn sàng cho xe đi xa nhiều giờ đồng hồ?

Nếu có sự minh mẫn, phản xạ nhanh nhạy và một tư thế ngồi hợp lý, bạn có thể đi xa mà không lo lắng. Không nên ngồi co ro, mà cần thoải mái, nhưng không quá thư giãn để mất đi cảm nhận từ xe và mặt đường một cách kịp thời.

7. Có phải vận tốc tối đa ghi trên biển báo là luôn luôn đúng?

Không phải. Giới hạn vận tốc trên đường luôn được xác định đối với các điều kiện tối ưu, còn trong điều kiện giao thông đông đúc, trời tối hay đường xấu thì lẽ dĩ nhiên cần đi chậm hơn, nhưng cũng không nên đi quá chậm để tránh gây cản trở cho các xe khác. Tốt nhất nên đi cùng tốc độ như những xe khác.

8. Rẽ trái như thế nào tại các ngã tư đông xe cộ?

Bật xi nhan trước khi bắt đầu lán sang trái, cách điểm cần rẽ ít nhất 100 m, biết chắc là tất cả các xe phía sau đều tránh sang phải của mình. Khi nhường đường cho các xe chạy ngược chiều nên giữ cho hướng xe thẳng tâm đường, sát dải phân cách. Đó là nguyên tắc an toàn cơ bản của kỹ thuật lái xe. Nếu xe chếch đầu sang trái, khi bị đâm từ phía sau, sẽ bị hất sang làn đường ngược chiều.

9. Làm cách nào tránh được nguy hiểm từ các xe chạy sát phía sau?

Không nên phanh gấp để “dọa” vì không phải tài xế nào cũng kịp phản ứng. Nhưng cũng không được để xe chạy sau buộc bạn phải tăng tốc chạy quá nhanh. Tốt nhất hãy giảm tốc độ một chút cho xe sau vượt.

10. Làm gì nếu xe phía trước thu hẹp khoảng cách an toàn?

Rất thường xảy ra việc xe bạn chạy sau chiếc nào đó với khoảng cách an toàn, nhưng tài xế xe trước cố tình rút ngắn khoảng cách đó, ví dụ bạn giảm tốc độ, xe trước cũng giảm tốc độ. Khi đó phải luôn ghi nhớ rằng không bao giờ cho phép cảm xúc được vượt qua lý trí. Hãy báo hiệu xin vượt hoặc bình tĩnh giữ khoảng cách an toàn.



(Theo Ôtô Xe Máy)

Trao đổi kinh nghiệm lái xe đúc rút từ bản thân!

Phần 1: BÀN VỀ ĐI ĐƯỜNG DỐC:

- Không được bám sát xe phía trước cả khi lên và xuống dốc.
- Tuyệt đối đi đúng làn đường với những đoạn cua tay áo, khuất tầm nhìn. Đặc biệt lưu ý là các xe máy của dân địa phương hay thả dốc ầm ầm, chạy lấn làn đường nên các cụ phải lưu ý khi vào các đoạn cua tay áo. Chạy đúng làn đường rồi, nhưng cũng nên nhường thêm tý (nếu có thể).
- Giảm tốc độ đến tốc độ cần thiết trước khi vào cua. Tránh tuyệt đối vào cua tốc độ cao, đến khi bắt đầu cua mới đạp phanh giảm tốc độ, rất dễ bị văng ra ngoài, hơn nưa nếu gặp xe đi ngược chiều chạy lấn đường sẽ khó xứ lý.

LÊN DỐC:
Lên dốc thì cũng chẳng có gì để nói thêm cả. Nếu lên dốc mà vẫn chạy với xe AT nếu có các số L, 1,2,3 ... thì các cụ không nên để số D khi lên dốc mà nên về số thích hợp (tùy vào độ cao của dốc, tình hình đường xá và tình trạng giao thông). Số càng thấp thì càng an toàn. Với số MT thì cũng thế thôi.

XUỐNG DỐC:
Đây mới là cái quan trọng. Các cụ lưu ý là xuống dốc nguy hiểm hơn lên dốc gấp nhiều lần. Có hai vấn đề chính cần lưu tâm.

1) Xuống dốc xe sẽ bám đường kém hơn lên dốc nên dễ bị trượt, văng ra ngoài nếu đạp phanh gấp, hoặc vào cua tốc độ cao.
2) Do hầu hết các xe (đặc biệt là xe AT) khi xuống dốc đều bị trôi nên phải dùng phanh nhiều. Nếu rà phanh liên tục thì phanh sẽ bị nóng quá => các bộ phận loanh quanh cum phanh sẽ bị nướng chín, đôi khi còn phát hỏa gây cháy. Do đó, khi xuống dốc đều phải phanh kết hợp: Dùng cả phanh chân và phanh bằng động cơ (phanh bằng số).

Tóm lại, khi xuống dốc cần lưu ý hai điều:
- Không chạy tốc độ cao (cái này em đã lưu ý ở trên rồi, nhưng nói thêm ở đây nữa vì xuống dốc mà chạy tốc độ cao thì nguy hiểm hơn gấp nhiều lần).
- Không rà chân phanh liên tục mà phải phanh kết hợp.

Phần 2: BÀN VỀ PHANH KHI XUỐNG ĐÈO DỐC

Phải luôn luôn kiểm nghiệm những cảm giác của bản thân khi cầm lái:
+ Cảm giác về khoảng cách,
+ Cảm giác về tốc độ,
+ Cảm giác về độ căng của bánh xe,
+ Cảm giác về hệ thống giảm xóc của xe,
+ Cảm giác về tiếng động cơ,...
===> Nói một cách văn vẻ là người lái xe phải hòa mình vào chiếc xe như là một bộ phận của chiếc xe đó.
- Với những bác lần đầu tiên đi đường đèo dốc, đặc biệt là lại đi xe AT, thi em khuyên các bác một câu chân thành là nên mang theo mấy chai nước loại 3lít. Khi xuống dốc, các bác cảm thấy hình như mình rà phanh hơi nhiều thì nên dừng lại (Tuyệt đối không dừng ở đoạn đường cua, kể cả chỗ đó có rộng bao nhiêu đi chăng nữa) và sờ thử vào 4 lazăng xem sao, nếu thấy nóng quá thì cách xử lý phanh của các bác đã có vấn đề rồi, lúc đó mang chai nước mà đỏ vào 4 cụm phanh, nếu không có nước thì phải chờ cho 4 cụm phanh nguội mới đi tiếp được.
- Khi xuống dốc, quan trọng nhất là không được rà phanh liên tục mà phải kết hợp giữa phanh chân và phanh bằng số. Với những đoạn của gấp thì phải phanh để xe giảm xuống tốc độ phù hợp trước khi bắt đầu vào cua, không nên bắt đầu vào cua mới phanh, rât nguy hiểm.
- Với xe MT thì việc xử lý kết hợp giữa phanh và số không có gì phức tạp. Nhưng với xe AT thi khó hơn nhiều. Để có cảm giác sử dụng số AT khi đi đường đèo dốc thì các bác nên luyện tập sử dụng chế độ Manual (hay còn gọi là chế độ Sport - tùy hãng) khi đi đường bằng. Muốn giảm tốc độ, các bác không dùng phanh mà chuyển sang chế độ Manual rồi dồn số xem phản ứng của xe mình thế nào. Mỗi xe sẽ có phản ứng khác nhau với việc dồn số ở chế độ này. Điều quan trọng nhất các bác lưu ý là độ trễ khi dồn số. Nhiều xe phải mất đến 2~3 giây sau khi các bác gạt cần số thì xe mới chuyển xuống số thấp hơn. Nếu không có cảm giác chính xác về chế độ hoạt động của hộp số tự động của xe minh thì khó mà áp dụng việc dồn số đối với việc đi đường đèo dốc được.
Tuy nhiên, khi đi đường đèo dốc thì không nên dồn số để thay phanh.
- Khi muốn giảm tốc độ: Phanh rồi mới về số rồi giữ đều ga. Với những số thấp thì việc điều chỉnh tốc độ bằng chân ga rất hiệu quả, tuy nhiên cũng đòi hỏi sự điều khiển chân ga chính xác và nhạy cảm.

Phần 3: CẢM GIÁC LÁI
CẢM GIÁC LÁI là gì?
Trước khi nói về cảm giác lái thì xin hỏi các bác một vài điều:
+ Khi các bác chạy trên đường bị nghiêng sang một bên thì các bác có cảm giác là tay lái bị kéo sang bên đó hay không ạ?
+ Khi chèn lên một hòn đá hay chạy qua một ổ gà các bác có cảm thấy tay lái hơi bị giật nhẹ không ạ?
Vậy cảm giác lái chính là cảm giác với những lực phản hồi từ mặt đường lên vô lăng.
+ Khi các bác chịu khó để ý lực phản hồi từ vô lăng, các bác có thể cảm nhận được độ nhám của đường, sự trơn trượt của bánh xe khi đi trên đường trơn hay những vật cản mà bánh xe trèo lên.
+ Tuy nhiên, để cảm nhận được tình hình về đường xá thì cảm giác từ tay lái là chưa đủ. Nó phải tổng hợp từ tất cả các giác quan của các bác: Từ mắt nhìn đường, từ tai để nghe các tiếng động, từ cơ thể để cảm giác về xe và đường xá.
===> Tóm lại: Mục đích của cái gọi là Cảm giác lái chính là những thông tin để các bác đưa ra phương án xử lý thích hợp với tình trạng đường xá mà xe đang đi qua.
CẢM GIÁC LÁI: HAI MẶT CỦA MỘT VẤN ĐỀ
+ "Đánh lái chết", nghĩa là xoay vô lăng khi xe đứng tại chỗ. Lý do là xoay vô lăng khi xe đứng tại chỗ sẽ làm cho lốp nhanh mòn và hệ thống lái sẽ nhanh bị hỏng.
+ Cảm giác lái là việc cảm nhận những lực phản hồi từ mặt đường lên vô lăng. Như vậy, đối với những xe có trợ lực nhiều hơn thì tay lái sẽ nhẹ hơn (dòng xe Nhật), tuy nhiên lực phản hồi từ mặt đường sẽ ít hơn và làm cho cảm giác lái sẽ "không thật". Ngược lại, với dòng xe Âu, Mỹ thì cảm giác lái tốt hơn, nhưng vô lăng sẽ nặng hơn.
Kết luận tạm thời là xe càng trợ lực lái nhiều thì cảm giác lái sẽ càng kém đi.

Vấn đề ngược lại: Với những xe có cảm giác lái tốt là những xe có lực phản hồi từ mặt đường lên vô lăng tốt hơn. Tuy nhiên, nó có tính hai mặt của nó. Các bác đã bao giờ có cảm giác vô lăng bị giật một cái khi bánh trước chèn vào hòn gạch hay hòn đá hoặc vô lăng cứ như bị ai đó kéo giằng sang một bên khi bánh xe chạy vào một sống trâu, một đường rãnh hay khi leo lên vỉa hè mà chạy chéo. Lúc này các bác mà không chắc tay lái thì rất dễ bị tuột tay khỏi vô lăng. Mặt trái của những xe có "cảm giác lái" tốt lúc này lại là lực tác động trái chiều lên vô lăng sẽ lớn hơn những xe có cảm giác lái kém hơn do trợ lực lái của ít hơn.

Vì vậy, các bác nên chú ý mấy điều sau:
- Với những xe có cảm giác lái tốt: Việc giữ chặt vô lăng khi xe chạy trên đường gồ ghề là rất cần thiết. Đặc biệt, khi vào cua với tốc độ cao nên giữ vô lăng bằng hai tay vì xe rất dễ bị "cướp lái" nếu bánh trước chạy qua hòn gạch, đá hay ổ gà.
- Với xe có cảm giác lái nhẹ: Khi chạy tốc độ càng cao thì tay lái lại càng nhẹ nên dễ xảy ra hiện tượng đánh quá lái hoặc đánh lái quá đột ngột. Khi chạy trên đường trường với tốc độ cao nên cầm lái thấp xuống một chút, tốt nhất là cầm hai tay theo vị trí 3g-9g(hoặc 10g).
- Không nên vừa còi vừa lái xe bằng một tay.
Nói chung, khi cầm lái xe nên hiểu rõ những tính năng và khả năng của xe mình cũng như các giới hạn của xe để có những thao tác hợp lý.

Phần 4: LÁI XE TRÊN ĐƯỜNG TRƠN TRƯỢT:
Theo một khái niệm chính xác thì ĐƯỜNG TRƠN TRƯỢT có nghĩa là đường có độ ma sát thấp. Do đó, nó bao gồm cả đường trơn do bùn đất khi trời mưa và đường trơn do có nhiều sỏi đá:
TÁC DỤNG CỦA PHANH XE:
- Nói đến phanh thì ai cũng biết là dùng để hãm tốc độ của xe bằng việc tác dụng một lực ngược chiều với chuyển động của xe qua tác dụng ma sát của lốp xe với đường. Tuy nhiên, có một điều mà ít bác để ý tới đó là tác dụng của phanh xe như thế nào.

- Phanh trước: Là phanh chống văng ngang, nhưng lại dễ bị trượt dọc.
- Phanh sau : chống trượt dọc, nhưng dễ bị văng ngang.
- Điều này với 2B thì cực kỳ quan trọng. Bác nào để ý là nếu chỉ đạp phanh sau thì xe sẽ bị văng ngang, còn nếu chỉ bóp phanh trước thì xe bị trượt dọc. Đặc biệt với xe phanh dầu (phanh đĩa) khi vào cua mà chỉ dùng phanh trước là bị trượt văng ra và bị đổ xe ngay. Nên với 2B, đặc biệt với xe phanh đĩa thì khi phanh phải dùng cả hai phanh. Một số xe ga hiện nay có một cơ cấu gọi là phanh kết hợp (combinated brake), khi bóp một phanh thì cơ cấu đó sẽ kéo phanh còn lại. Xe cao cấp hơn thì có hệ thống kết hợp bằng thủy lực (phanh dầu cả trước và sau, điều chỉnh bằng van tiết lưu).
- Đối với ô tô thì điều này có vẻ không quan trọng vì nhà sản xuất đã tính toán sẵn phân bố lực phanh hợp lý (thường là 60% cho bánh trước và 40% cho bánh sau). Hơn nữa, có thếm những hệ thống hỗ trợ phanh nữa như ABS, hệ thống phân bổ lực phanh tự động, .v.v. nên người lái xe hầu như không cần quan tâm đến việc lực phanh phân bố như thế nào. Tuy nhiên, với một số kỹ thuật cao cấp thì việc này lại quan trọng, chủ yếu là tận dụng lực văng của đuôi xe bằng việc sử dụng phanh tay. Vì phanh tay chỉ phanh bánh sau, khi kéo phanh tay đột ngột thì đuôi xe sẽ bị văng sang một bên. Cái này như em đã nói ở trên: phanh sau dễ bị văng ngang.
ĐI VÀO VẤN ĐỀ CHÍNH:
"NỖI SỢ HÃI" (như của một số bác đề cập đến) khi đi trên hai loại đường là đường trơn và đường nhiều sỏi đá (theo định nghĩa thì cũng là một thôi) là các thao tác lái xe không còn chính xác nữa. Xe chuyển động theo những quỹ đạo nhiều khi rât kỳ lạ và những kinh nghiệm lái xe thông thường có vẻ không còn phù hợp. Vậy thì phải làm sao?
PHÂN LOẠI ĐƯỜNG TRƠN TRƯỢT:
Có nhiều cách phân loại, ví dụ như theo mức độ trơn trượt (độ ma sát ít hay nhiều),.v.v. Nhưng theo kinh nghiệm của em thì có hai loại chính:
- Đường trơn trượt nhưng có địa hình bằng phẳng.
- Đường trơn trượt có địa hình phức tạp, nhiều sống trâu, ổ voi.
Với loại đường thứ nhất thì thường chỉ xảy ra hiện tượng xe chuyển động không tuân theo sự điều khiển của tay lái, đuôi xe bị văng ra phía ngoài khi vào cua.
Còn với loại đường thứ hai thì ngoài hiện tượng nêu trên, xe còn bị trượt sang hai bên do bánh xe nào đó trèo lên một sống trâu bị trượt xuống (hơi nôm na một chút, chắc là các cụ hiểu được)
Do đó, việc chạy xe trên loại đường thứ hai sẽ khó và nguy hiểm hơn nhiều lần.

LÁI XE TRÊN ĐƯỜNG TRƠN TRƯỢT:
Khi đi trên đường trơn thì lái xe phải lưu ý điểm lớn nhất là tất cả các giới hạn về đều giảm xuống nhiều khi đến mức thấp nhất.
+ Như giới hạn về tốc độ khi vào cua,
+ Giới hạn về lực gây ra hiện tượng "quá ga" (Over power - em đã phân tích ở phần trước),
===> Trong nhiều tình huống thì hệ thống TCS hầu như mất tác dụng, và hay xảy ra hiện tượng ba-ti-nê do tác dụng của bộ vi sai. Điều quan trọng nữa là do giới hạn về ma sát giảm xuống nên phanh rất dễ bị mất tác dụng do lực tác dụng từ bánh xe lên mặt đường lớn hơn giới hạn của lực ma sát, khi đó xe sẽ bị trượt trên đường (về lý thuyết thì xe sẽ bị trượt ra theo hướng tiếp tuyến với vòng tròn vào cua của xe).
KINH NGHIỆM:
Đối với loại đường thứ nhất (đường bằng phẳng):
- Điều đầu tiên là phải đi chậm, cảm nhận dần dần các giới hạn về lực ma sát (độ bám của bánh xe lên mặt đường), khi đã cảm nhận được rồi thì nên đi thấp hơn tốc độ mình cảm nhận một chút. Với điều này thì cái gọi là "Cảm giác lái" rất quan trọng.
- Không phanh khi vào cua mà phải phanh để xe giảm đến tốc độ dưới giới hạn trước khi vào cua. Tình huống này khi đi 4B thì gần giống với 2B vào cua chỉ dùng phanh trước do lực phanh phân bố nhiều hơn vào bánh trước. Xe sẽ bị trượt thẳng ra phía trước. Với những đoạn đường hẹp thì đồng nghĩa với việc bị trượt ra ngoài (ai mà biết trước được nó có cái gì ở đó chứ).
- Khi xe có biểu hiện không tuân theo điều khiển của vô lăng thì không được đạp phanh mà phải giảm ga, đánh lái theo hướng chuyển động của xe (cái này gần giống áp dụng kỹ thuật drift), không nên cố đánh lái theo hướng mình mong muốn. Đến khi có cảm giác bánh trước bám đường rồi mới đánh lái trở lại. Thực ra điều này nói thì dễ, nhưng thực hành thì hơi khó. Do đó, nếu các bác mà đi với tốc độ cao (cao là so với tình trạng thực tế của đường xá chứ không phải tính bằng con số 40 hay 60km/h ) thì rất khó thực hiện được thao tác này. Nên kinh nghiệm của em là nên đi chậm hơn cảm giác của mình một chút cho nó an toàn.
- Đường trơn trượt là đường không cho phép các cú phanh gấp, nên việc quan sát đường phải cẩn thận. Nên xử lý non (xử lý sớm các tính huống), đừng để đưa mình vào tình huống phải phanh gấp.
Đối với đường trơn mà lại có địa hình phức tạp:
Kinh nghiệm nói chung cũng như trên và bổ xung thêm những điều dưới đây:
- Như em đã nói ở trên, đường có địa hình phức tạp thì xe nhiều khi bị trượt sang hai bên. Khi đó các bác đừng cố đạp phanh hoặc đánh lái cho xe trở lại hướng cũ. Cứ giảm ga, để nó trượt hết đi (chỉ một chút thôi) khi xe đã ổn định trở lại thì mới thao tác tiếp.
- Khi đi qua một vũng bùn hoặc một ổ voi có nhiều nguy cơ gây ra hiện tượng ba-ti-nê thi trước khi đi vào đó nên tăng tốc độ lên một chút, khi bánh chủ động đã nằm trong vũng bùn rồi thì giữ đều ga, không đạp thốc ga lên mà dễ làm xe bị quá ga hoặc ba-ti-nê, khi bánh chủ động bắt đầu đến mép bên kia của ổ voi thì đạp nặng ga thêm một chút, thêm chút động năng cho xe để xe vượt qua.
- Đường trơn trượt mà có địa hình phức tạp thì đòi hỏi sự quan sát tình hình đường xá phải cẩn thận hơn. Đôi khi có những chướng ngại vật như xe thồ, xe máy, hay một chiếc xe ngược chiều nào đó chiếm mất phần đường khô ráo hơn (ít trơn trượt hơn) thì nên để họ đi qua xong rồi mình sẽ đi vào chỗ đó (nhiều khi phải lấn sang làn đường bên trái), không cố đi làm gì.

Phần 5: Về việc đang đi đường dốc mà phải xử lý số:
- Đối với việc sang số cao hơn: Em nghĩ là trường hợp này cũng dễ xử lý thôi, các bác dùng số thấp thấy động cơ bị dư tải, lúc này không nên sang số ngay mà chạy tăng tốc lên một chút cho xe có đà, khi nào cảm thấy ngắt côn mà xe không bị dừng lại và trôi ngược xuống dốc thì mới sang số. Cái này chủ yếu cần thao tác nhanh, chính xác và dứt khoát. Nếu không, thời gian sang số lâu quá thì xe sẽ bị mất động năng và dừng lại. Khi đó nó sẽ giống trường hợp thứ hai dưới đây.
- Khi xe bị thiếu động năng phải về số thấp hơn: Đây là một thao tác khó, đặc biệt trong trường hợp bò lên dốc cao, đường đông, xe lại chở nặng. (Đây cũng là lý do mà khi lên dốc không nên bám đuôi xe trước, dốc càng cao, xe trước càng nặng thì càng phải tránh xa). Về mặt nguyên tắc thì không nên để rơi vào tình huống này. Việc xác định số nào phù hợp cho xe lên dốc phải xác định trước khi đi vào đoạn dốc đó, đặc biệt là các đoạn cua mà độ dốc lớn. Phải về số thích hợp trước khi đi vào đoạn dốc đó, khi mà xe đang còn dư động năng và quán tính xe đủ lớn cho việc ngắt côn và sang số.

Tuy nhiên, trong trường hợp đi vào đoạn dốc rồi mới thấy xe không đủ động năng, xe ỳ ra và cảm thấy máy không tải được nữa. Tình huống này có mấy cách xử lý sau:
1) Nếu xe chỉ hơi thiếu động năng mà thao tác chuyển số của lái xe chưa thuần thục lắm thì có thể áp dụng kỹ thuật "đỡ côn" hay còn gọi là "vê côn". Đạp nhẹ chân côn và đạp mạnh thêm chân ga một chút. Cái này giải thích bằng lời thì hơi khó. Các bác cứ kiểm nghiệm thử trên đường bằng trước rồi sẽ có cảm giác về kỹ thuật này.
Tuy nhiên, đây là kỹ thuật không nên áp dụng vì hai lý do:
+ Thứ nhất: Hại xe do các lá côn bị mài mòn nhanh. Nếu xử lý không khéo có thể làm cháy các lá côn.
+ Thứ hai: Nếu thao tác không chính xác mà đạp chân côn quá thì lại thành cắt côn, xe không còn động năng, dễ bị dừng lại và trôi ngược xuống dốc.
2) Cách xử lý hợp lý nhất: khi mới cảm thấy xe hơi thiếu động năng, số đang đi không phù hợp thì nên về số ngay khi xe còn quán tính lớn.
3) Nếu trường hợp xe đã ỳ ra rồi, không đủ quán tính để về số: Trường hợp này nên dừng hẳn xe lại, không nên về số vội vàng mà dễ dẫn đến làm mẻ bánh răng số. Khi xe đã dừng rồi thì giống như là bài tập Depart lên dốc thôi.
Kéo phanh tay => Về số 1 => nhả côn từ từ đồng thời tăng thêm chân ga => khi xe bắt đầu chuyển động thì nhả dần phanh tay. (em lưu ý thêm là chỉ nhả dần phanh tay khi xe đã chuyển động).
Trường hợp mà dốc cao, xe chở nặng thì nhiều khi phanh tay sẽ không đủ lực để giữ xe lại. Khi các bác nhả chân phanh ra để đạp côn thì xe bị trôi ngược. Trường hợp này không nên mất bình tĩnh, nên đạp nặng ga hơn một chút và nhả chân côn nhiều hơn một chút là xe sẽ dừng lại và chuyển động ra phía trước ngay, khi đó mới bắt đầu nhả từ từ phanh tay.
LƯU Ý: Một lưu ý cực kỳ quan trọng là với các đoạn đường cua gấp mà dốc lại cao thì tuyệt đối phải về số trước khi vào cua, tốt nhất là cứ về số 1 cho nó

Phần 6: Có 2 kỹ thuật vào cua tốc độ cao:
FAST IN - SLOW OUT: Các bác chạy với tốc độ cao vào cua thì gần đến điểm giữa vòng cua sẽ phải đạp phanh vì tốc độ cao quá mà không đệm phanh thì sẽ bị văng ra ngoài, do đó tốc độ khi ra khỏi cua sẽ thấp hơn tốc độ vào cua nên gọi là Fast In - Slow Out.
SLOW IN - FAST OUT: thì ngược lại, các bác vào cua với tốc độ vừa phải, bám cua đều, không cần đệm phanh, đến điểm giữa vòng cua thì tăng tốc nên tốc độ ra khỏi vòng cua sẽ nhanh hơn tốc độ vào của nên gọi là Fast Out.










Thứ Ba, 9 tháng 12, 2008

Quy định mã vùng về biển số xe Việt Nam

Hiện nay trên đường phố Việt nam có nhiều loại xe mang các biển số xe, màu sắc biển số khác nhau. Dưới đây là một số tổng hợp về ý nghĩa của biển số xe Việt Nam

Ý nghĩa Biển số xe Việt Nam

1./ Màu xanh chữ trắng là biển xe của các cơ quan hành chính sự nghiệp:
Các tỉnh thành thì theo số của các tỉnh thành tương ứng

2./ Màu đỏ: Cấp cho xe quân đội, xe của các doanh nghiệp quân đội là biển 80 màu trắng.
Biển số quân đội với 2 chữ cái đầu tiên là viết tắt của:
A=Quân đoàn, ví dụ AA là Quân đoàn 1, AB là Quân đoàn 2
B=Bộ tư lệnh, ví dụ BT là BTLTăng thiết giáp, BD là BTLđặc công, BH là BTL Hóa học.
H=Học viện
K=Quân khu, ví dụ KA Quân khu 1, KB quân khu 2, KT quân khu Thủ đô
T=Tổng cục, TC tổng cục chính trị, TH Tổng cục Hậu cần
Q=Quân chủng, QP quân chủng phòng không -không quân

3./ Màu vàng: Cấp cho xe thuộc bộ tư lệnh biên phòng
4./ Màu trắng với 2 chữ và năm số là biển cấp cho các đối tượng có yếu tố nước ngoài.
NG là xe ngoại giao
NN là xe của các tổ chức, cá nhân nước ngoài
3 số ở giũa là mã quốc gia, 2 số tiếp theo là số thứ tự
xe số 80 NG xxx-yy là biển cấp cho các đại sứ quán, thêm gạch đỏ ở giữa và 2 số cuối
là 01 là biển xe của tổng lãnh sự (bất khả xâm phạm) riêng biển này khi thay xe thì giữ lại biển để lắp cho xe mới.
Mã quốc gia: 011 Anh, 026 Ấn Độ, 041 Angiery, 061 Bỉ, 066 Ba Lan, 121 Cu ba, 156 Canada, 166 Cambodia, 191 Đức, 206 Đan Mạch, 296 và 297 Mỹ, 301 Hà Lan, 331 Italia, 336 Ixrael, 346 Lào, 364 Áo, 376 Miến điện, 381 Mông Cổ, 441 Nga, 446 Nhật, 456 New Zealand, 501 Úc ,506 Pháp, 521 Phần Lan, 546 547 548 549 Các ổ chức Phi Chính Phủ, 566 CH Séc, 581 Thụy Điển, 601 Trung Quốc, 606 Thái Lan, 626 Thụy Sỹ, 631 Bắc Hàn, 636 Hàn quốc, 691 Singapore, 731 Slovakia, 888 Đài Loan).

*Các biển A: xe của Công An - Cảnh Sát tương ứng với các tỉnh
ví dụ: 31A = xe của Công An - Cảnh Sát thành phố Hà Nội
Màu trắng cấp cho tư nhân và doanh nghiệp, 2 số đầu theo thứ tự các tỉnh, 4 số cuối là số thứ tự cấp ngẫu nhiên.

Quy định biển số của 64 tỉnh thành:

11 - Cao Bằng
12 - Lạng Sơn
13 - Hà Bắc (biển số này cũ, nay tách ra thành Bắc Giang 98 và Bắc Ninh 99)
14 - Quảng Ninh
15,16 - Hải Phòng
17 - Thái Bình
18 - Nam Định
19 - Phú Thọ
20 - Thái Nguyên
21 - Yên Bái
22 - Tuyên Quang
23 - Hà Giang
24 - Lào Cai
25 - Lai Châu
26 - Sơn La
27 - Điện Biên
28 - Hòa Bình
29-32: Hà Nội (xe máy biển mới 4 chữ số- 29, biển cũ 3 chữ số có 29.30.31). Riêng 30 dành cho xe máy phân khối lớn (>175cc, các thành viên câu lạc bộ mô tô).Biển 32 đã có thời dùng cho xe dân thường, hiện nay tạm thời chưa dùng đến. Hà Tây đã sát nhập về với Hà Nội nên nghiễm nhiên biển 33 cũng thuộc Hà Nội.
34 - Hải Dương
35 - Ninh Bình
36 - Thanh Hóa
37 - Nghệ An
38 - Hà Tĩnh
43 - Đà Nẵng
47 - Đắc Lắc
48 - Đắc Nông
49 - Lâm Đồng
50 đến 59 - TP. Hồ Chí Minh
60 - Đồng Nai
61 - Bình Dương
62 - Long An
63 - Tiền Giang
64 - Vĩnh Long
65 - Cần Thơ
66 - Đồng Tháp
67 - An Giang
68 - Kiên Giang
69 - Cà Mau
70 - Tây Ninh
71 - Bến Tre
72 - Bà Rịa - Vũng Tàu
73 - Quảng Bình
74 - Quảng Trị
75 - Huế
76 - Quảng Ngãi
77 - Bình Định
78 - Phú Yên
79 - Khánh Hòa
80 - Các đơn vị kinh tế thuộc TW (hàng không)
81 - Gia Lai
82 - KonTum
83 - Sóc Trăng
84 - Trà Vinh
85 - Ninh Thuận
86 - Bình Thuận
88 - Vĩnh Phúc
89 - Hưng Yên
90 - Hà Nam
92 - Quảng Nam
93 - Bình Phước
94 - Bạc Liêu
95 - Hậu Giang
97 - Bắc Cạn
98 - Bắc Giang
99 - Bắc Ninh
ĐỐI VỚI Thành phố Hồ Chí Minh(từ 50-59)
A: Q.1 (cũ)
B: Q.3 (cũ)
C: Q.4 (cũ)
D: Q.10 (cũ)
E: Nhà Bè
T: Q1
F: Q3
Z: chẵn là Q4; lẻ là Q7
H: Q5
K: Q6
L: Q8
M: Q11
N: Bình Chánh
P: Tân Bình
R: Phú Nhuận
S: Bình Thạnh
U: Q10
V: Gò Vâp
X: Thủ Đức, Q2,Q9
Y: Q12, Hóc Môn và Củ Chi

Theo tên địa danh (thứ tự ABC) thì nó như thế này :

An Giang 67
Bà Rịa - Vũng Tàu 72
Bạc Liêu 94
Bắc Giang 98
Bắc Kạn 97
Bắc Ninh 99
Bến Tre 71
Bình Dương 61
Bình Định 77
Bình Phước 93
Bình Thuận 86
Cà Mau 69
Cao Bằng 11
Cần Thơ 65
Đà Nẵng 43
Đắc Nông 48
Đắk Lắk 47
Điện Biên
Đồng Nai 60
Đồng Tháp 66
Gia Lai 81
Hà Giang
Hà Nam 90
Hà Nội 29-32
Hà Tây 33
Hà Tĩnh 38
Hải Dương 34
Hải Phòng 15.16
Hậu Giang 95
Hoà Bình 28
Hưng Yên 89
Kiên Giang 68
Kon Tum 82
Khánh Hoà 79
Lai Châu 27
Lạng Sơn 12
Lào Cai 24
Lâm Đồng 49
Long An 62
Nam Định 18
Ninh Bình 35
Ninh Thuận 85
Nghệ An 37
Phú Thọ 19
Phú Yên 78
Quảng Bình: 73
Quảng Nam 92
Quảng Ninh 14
Quảng Ngãi 76
Quảng Trị 74
Sóc Trăng 83
Sơn La 26
Tây Ninh 70
Tiền Giang 63
Tp. Hồ Chí Minh 50-59
Tuyên Quang 21
Thái Bình 17
Thái Nguyên 20
Thanh Hoá 36
Thừa Thiên - Huế 75
Trà Vinh 84
Vĩnh Long 64
Vĩnh Phúc 88
Yên Bái 23
Cà Mau 69
Biển đỏ của Bộ Quốc Phòng
AT … Binh đoàn 12
AD … Quân Đoàn 4 , Binh đoàn Cửu Long
BB … bộ binh
BC … Binh chủng Công Binh
BH … Binh chủng hoá học
BT … Binh chủng thông tin liên lạc
BP …. Bộ tư lệnh biên phòng
HB … Học viện lục quân
HH …Học viện quân y
KA .. Quân khu 1
KB … Quân khu 2
KC … Quân khu 3
KD … Quân khu 4
KV … Quân khu 5
KP … Quân khu 7
KK … Quân khu 9
PP… các quân y viện
QH … Quân chủng hải quân
QK , QP … Quân chủng phòng không không quân
TC … Tổng cục Chính trị
TH … Tổng cục Hậu cần
TK …. Tổng cục công nghiệp quốc phòng
TT … Tổng cục kỹ thuật
TM … Bộ tổng tham mưu
VT … Viettel

Những xe mang biển 80 gồm có:

Các Ban của Trung ương Đảng; Văn phòng Chủ tịch nước; Văn phòng Quốc hội; Văn phòng Chính phủ; Bộ Công an; Xe phục vụ các đồng chí uỷ viên Trung ương Đảng công tác tại Hà Nội và các thành viên Chính phủ; Bộ ngoại giao; Viện kiểm soát nhân dân tối cao; Toà án nhân dân tối cao; Đài truyền hình Việt Nam; Đài tiếng nói Việt Nam; Thông tấn xã Việt Nam; Báo nhân dân; Thanh tra Nhà nước; Học viện Chính trị quốc gia; Ban quản lý Lăng, Bảo tàng, khu Di tích lịch sử Hồ Chí Minh; Trung tâm lưu trữ quốc gia; Uỷ ban Dân số kế hoạch hoá gia đình; Tổng công ty Dầu khí Việt Nam; Các đại sứ quán, tổ chức quốc tế và nhân viên;Người nước ngoài;Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước; Cục Hàng không dân dụng Việt Nam; Kiểm toán nhà nước


(ST)

Làm sao để sử dụng ô tô bền đẹp

1. NHỮNG BẢO TRÌ THƯỜNG XUYÊN TỐI THIỂU
a. Mỗi ngày xe chạy
- Nếu nghe tiếng máy nổ, nếu rất là ồn so với bình thường thì cần phải chỉnh lại máy <> vì có thể lửa đánh không đúng, hay bugi dơ...
- Phần quan trọng nhất và đơn giản nhất của sự bảo trì xe là bằng sự quan sát . Nếu thấy có sự gì khác thường là cần phải tìm ra nguyên nhân ngay, nếu không có thể là rất tai hại: thí dụ như đang chạy thấy xe rung và nghiêng về một phía không bình thường-cần phải ngừng xe lại, đậu ở một nơi an toàn và kiểm tra bánh xe và các trục quay, hệ nhún...
- Một thí dụ khác là sự quan sát nhiệt độ máy là rất cao <>, càn phải coi lại hệ thống làm nguội máy như bình nước, các ống dẫn nước, phần điều nhiệt <>...
Luôn luôn coi trên sân đậu có vết dầu, xăng hay nước, nếu có thì xem kỹ nguyên nhân của sự rò rỉ <> và phải sửa chữa ngay-nếu không máy có thể bị mòn nhiều... và cuối cùng xe hư luôn.
Chúng ta sẽ ngạc nhiên khi nguyên nhân của đa số các trục trặc của xe thì rất đơn giản.
b. Mỗi tuần hay đã chạy được chừng 400 cây số<>
- Kiểm tra mực nhớt trong xe, đổ nếu cần thêm-xe phải nằm ngang chứ không được ở chỗ dốc, và không được để mực nhớt ở dười “L”
- Kiểm tra mực dầu của hệ thống truyền động, đổ thêm nếu cần.
- Kiểm tra nước trong bình- đổ thêm nếu thấy thiếu, đừng bao giờ mở nắp bình nước khi còn nóng<>.
- Mở nút của từng ngăn bình điện ra, xem đầy hay vơi-nếu đổ thêm nước thì nên sài nước cất<>hay nước nguyên chất.
- Coi bình dựng nước, xăng xem còn ít hay nhiều.
- Coi áp suất của mỗi bánh xe bằng cách nhìn độ hẹp của chúng, kể cả bánh xe phụ- nếu xẹp đi bơm lại ở chỗ đổ xăng. Nhớ rằng khi đã chạy vài cây số thì áp suất bánh xe sẽ lên cao, thành ra lúc kiểm- soát bánh xe nên là lúc nguội, và tra cứu bản chỉ-dẫn của nhà chế-tạo, nhiều lúc bánh sau cần căng hơn...
- Coi đèn trước, sau, trong, và thắng xem bóng đèn có bị hư hay mờ. Đèn thắng sau có thể kiểm tra bằng cách đi lùi lại gần tường.
- Coi bình nước rửa kiến trước-đổ thêm vào nếu còn ít.
c. Mỗi 8000 cây số<>
- Kiểm soát máy bộ chia điện, xem kỹ các điểm liên- hệ<>; nếu bị lủng hay cháy thì phải thay bằng đồ mới.
- Kiểm-soát máy chạy một mình xem sao<>.
- Kiểm-soát mực khí CO thoát ra – mục đích là coi hệ-thốnh kiểm soát ô nhiễm của máy nổ có chạy bình thường không, nếu không phải thay.
- Kiểm-soát bầu lọc khí - đem miếng lọc ra gõ nhẹ để các chất dơ rớt ra.
- Kiểm-soát phần dưới của thân xe bằng cách đội xe lên – phải rất cẩn thận khi ở dưới xe quan sát các bộ phận có bị lỏng, rỉ nhớt, hư hại... nhiều tai nạn đã xảy ra vì chuyện này! <>.
d. Mỗi 1200 cây-số hay 7500 dặm
- Thay nhớt máy và thay thế bầu lọc nhớt- cần phải thay đều hơn nếu xe dùng nhiều <>.
- Quan-sát ống dẫn dầu thắng và các ống nối chúng.
- Kiểm tra thắng tay.
- Kiểm tra độ lỏng < độ giơ > của em-bra-ya nếu là xe có hộp số tay.
- Kiểm soát hệ thống thoát hơi kể cả ống pô xem có rỉ hay không được an toàn .
- Kiểm soát các ốc vặn giữ máy và hệ-thống nhún: xem chúng có bị lỏng hay gần sút ra ! đây là những triệu trứng nguy hiểm.
- Kiểm soát bu-gi, chùi sạch chúng và điều chỉnh khoảng cách của các cực <>.
- Kiểm-soát độ lỏng của nhông tay lái và những bộ nối tay lái<>.
- Kiểm tra giây cu-roa xem có lỏng hay không- nếu dây chặt quá thì bạc đạn bị đè nặng thành dễ hư <>; nếu dây lỏng quá thì dễ trượt khi chạy t thành ra mòn nhanh <>.
- Kiểm-soát bánh xe coi mòn nhiều hay ít, nếu có vết nứt thì phải thay ngay.
Mỗi 2400 cây số hay 15000 dặm/miles
- Kiểm-soát như 1200 cây số ở trên, thêm vào đó cần phải:
- Kiểm-soát vòi và ống dẫn nước, rửa cho sạch bình nước bằng cách tháo vòi nước dưới và để ống nước nhả vào lỗ nước trên, xịt nước mạnh để các chất cạn bã, chất dơ... bị nước đẩy ra ngoài.
- Thay thế miếng lọc của bầu lọc khí.
- Kiểm-soát hệ thống xăng:nòng dẫn xăng, cục đo nhiệt độ máy...
- Kiểm soát hệ thống chống ô nhiễm không khí- điều này ngày càng quan trọng vì lý do sức khoẻ của cộng đồng !
- Thay thế nhớt hộp số
- Thay thế nhớt của trục quay trước và sau.
- Thay thế bu-gi toàn bộ.
- Kiểm soát tình trạng của thắng trước và sau: mòn nhiều hay ít...
- Kiểm-soát và chỉnh các bánh trước sau
- Kiểm soát bình điện coi có bị rỉ sét nơi hai cực hay không- chùi sạch hai cực và dây nối bằng petroleum jelly chứ không nên dùng dầu mỡ thường .
Mỗi 48000 cây số hay 30000 dặm/miles
- Kiểm-soát như 24000 cây số ở trên, thêm vào đó cần phải:
- Kiểm-soát hệ thống thắng và thay dầu thắng bằng cách cho dầu thắng và không khí chạy ra <>, thay thế bằng đầu thắng của nhà chế-tạo.
- Kiểm-soát các mâm xe trước và sau tuỳ theo máy đặ trước hay sau; tháo từng phần và bôi dầu mỡvào khi ráp chúng lại.
Hệ Thống Điện
Đèn không cháy:
-Bóng đèn cháy/hư,thay thế.
-Cầu chì cháy, thử lại cầu chì và thay.
-Dây điện lỏng,đứt ,sút ra-thử và nối lại.
-Công tắc đèn hư, nối dây không cần công tắc xem đèn có cháy không, nếu có thay nó.
Đèn cháy không sáng:
- Kiến bao đèn dơ, lau sạch lại.
- Phần phản chiếu đèn dơ/hư, thay thế nó.
- Đèn không chỉnh đúng, chỉnh lại cho đúng.
- Bóng đèn không đúng công suất, thay bóng.
- Bóng đèn nám đen , thay thế bóng mới.
- Dây nối điện quá nhỏ không mang đủ điện, thay dây nối điện lại cho đúng.
Động cơ chạy nhưng quạt hư:
- Các dây thanh truyền/nối bị sút ra hay hư, nối chúng lại hay thay thế.
- Hộp số động cơ bị mònhay hư,tháo hộp số ra coi lại, thay thế nếu cần.
Động cơ quạt kiến hư:
-Cầu chì cháy, thử cầu trì và thay thế.
-Dây nối lỏng, đứt hay sút ra, nối lại cho tốt.
- Chổi điện trong máy mòn nhiều, tháo máy ra và mua chổi mới thế.
- Phần ứng điện mòn hay hư, tháo máy ra, mua bộ ứng điện mới thế.
Bình không giữ điện lâu/hay hết:
- Bình điện hư bên trong, gỡ bình ra thay mới.
- Nước trong bìng tháp, thêm nước cất vào.
- Dây curoa trượt,xem có mòn hay không, thay mớivà căn dây lại cho cứng.
- Điện bị mát cho hệ đèn, hệ kiểm soát điện tử, dây nối chạy trong xe...,tìm khúc mát điện và sửa lại.
-Rơle chính điện hư, kiểm-soát và thay thế.
Bình hết nhanh và máy đo dòng điện chỉ không có sạt:
- Dây curoa lỏng, trượt, đứt: xem kỹ và thay, vặn chặt lại nếu cần.
- Chổi điện yếu hay gẫy: xem kỹ và thay thế.
- Điện trong cuộn dây mát: thay thế.
Đề-ma-rơ không chạy:
- Bình điện hết : sạt lại bình.
- Bình hư : thay bình khác.
- Dây nối bình sút, hư: nối lại cho tốt.
- Công tắc đề hay aolơnoi hư: gỡ ra sửa lại.
Có điện ở đề-ma-rơ nhưng động cơ đề không quay:
- Chổi điện mòn, dính lại hay lỏng:thay mới.
- Phần quay hay phần ứng điện hư: tháo sửa.
- Cuộn dây trong bị mát, tháo ra xem lại : sửa.
Đề-ma-rơ quay máy rất chậm:
- Bình hết điện: sạt điện lại hay thay bình.
- Chổi điện mòn hay hư:tháo ra và thay mới.
- Dây nối lỏng trong máy đề: tháo sửa lại.
Đề-ma-ro chạy nhưng máy ngưng:
- Răng số hay bánhtrớn gẫy: tháo ra thay.
Đề-ma-rơ rất ồn:
- Răng só hay bánh trớn mòn gẫy: gỡ ra thay.
- ốc vặn đề-ma-rơ hỏng: xem kỹ và vặn lại.
Kiểm tra Bô-bin/ hệ nạp lửa :
- Dùng đồng hồ đo hiệu thế, hay là một bóng đèn12V và dây nối, chìa kháo ổ IGN chứ không đề máy. Đo hiệu thế từ cực dương cuộn sơ cấp tới thân xe<> coi có điện hay không- nếu không, coi lại công tắc đề, hiệu thế từ âm cực tới thân xe, nếu có điện cực dương mà không cố ở cực âm- cuộn sơ cập có thể hư: xem lại bô-bin và cục tụ điện.
Kiểm-tra bu-gi coi có nhận điện làm cho máy không chạy:
- Kiểm-tra coi dòng điện có tới bugi không bằng cách tháo mỗi bugi ra và để cách thân máy khoảng 5mm, phải có đồ cầm cách điện để không bị giật; đề máy thì sẽ có lửa xẹt từ bugi tới thân xe, nếu có chùi sạch và chỉnh khoảng cách hai cực bugi trước khi gắn lại.
Nghiên cứu các dạng phan xe khác
HỆ THỐNG MÁY NỔ
Động cơ quay rất khó khăn hoặc không quay
- Dây nối bình điện lỏng, sút ra hay rỉ sét... : Xem và sửa lại cho chặt.
- Xăng hết: xem đồng hồ xăng , đổ xăng.
- ổ đề hư, dây nối sứt ra: tháo ra /xem/sửa lại.
- Hộp số đang ở một cấp số nào đó: gạt cần số về điểm chết.
- Các pittong hoặc đầu biên bị kẹt, bi gẫy ở bên trong : cho kéo xe về giao cho thợ chuyên môn sửa.
- Bơm nước bị kẹt: tháo ra lau bằng xăng và dầu.
- Séc măng hoặc xú páp bị dính: phun xăng vào các lỗ bugi và đợi một thời gian.
- Đông cơ vừa được kiểm tra lại và vừa mới lắp lại:
+ Cho kéo xe về
+ Nhả ly kết ra, cho chuyển sang cấp số 2 và cẩn thận cho ly kết khớp lại dần để máy bốc.
+ Tra dầu mỡ nhiều vào.
- Trục maniven khởi động bị gẫy, trục khuỷu gẫy không truyền động được: cho kéo về , để xe nổ, sửa lại trục maniven. <>.
-Đề ma rơ quay một mình:
+ Lò xo gẫy: thay lò xo
+ Nhông bị dính: cho xăng, dầu vào đề làm trơn
-Đềmarơ không quay: chuyển sang một cấp số nào đó và đẩy xe từ sau ra trước và ngược lại.
-Máy đềmarơ bị hư: tháo/xem /sửalại.
+ Nhông kẹt: trên một số đông cơ ta có thể với tới nhông bằng mũi tua nơ vít để bẩy cho nhông khỏi kẹt.
+ Bình điện bị phóng điện hoặc quá cũ, không giữ được điện sạt: tìm lý do phóng điện , kiểm tra nồng độ của dung dịch điện phân. Quan sát chế độ nạp điện của đi-na-mô. Kiểm tra lại cầu trì an toàn, cái đóng ngắt tự động, các đường dây dẫn.
- Công tắc bị hỏng: Tháo ra sửa lại hoặc thay thế.
- Dây mát bị đứt: Thay thế.
-Đề-ma-rơ hoạt động tồi:
+ Lò xo chổi góp bị gẫy: thay thế.
+ Cổ góp bị cáu bẩn: Lau sạch bằng giấy nháp.
+ Phần cảm điện hoặc phần ứng điện bị ngắt: sửa chữa lại.
<>.
Động cơ không nổ được hoặc rất khó nổ
- Khoá xăng đóng: Mở khoá xăng ra.
- Công tắc đánh lửa chưa được bật: Bật ra.
- Dây mát chạm sát-xi: Cách ly nó bằng vải cách điện.
- Bình xăng cạn: Đổ cho đầy xăng.
-Có nước trong cácbuartô: Xúc và lau sạch.
-Xăng không đến cácbuaratô:
+ Lỗ khí của bình xăng tắc: Thông nó
+ Các đườngdẫn xăng bị tắc: Thông chúng
+ Lọc xăng bị bít do tạp bẩn: Lau chùi sạch
+ Màng của bơm xăng bị thủng: Thay thế
- Rò khí:
+ Rò ở các gioăng của cácbuaratô trên khối máy: Siết ốc lại
+ ống dẫn hướng xúpáp bị mòn làm rút gió vào xilanh: Kiểm tra lại máy.
- Đánh lửa bằng manhêtô:
+ Manhêtô bị ẩm: Lau kỹ phía trong bằng khăn khô.
+ Lò so ngắt bị gãy: Thay thế.
.
+ Cần ngắt bị kẹt trên trục của nó: Tháo ra, đánh sơ bằng giấy kính mỏng, cho một giọt dầu lên trục.
+ Than bị mòn , lò xo của than bị gãy: Thay thế.
- Đánh lửa bằng bình điện :
+ Bình diện bị phóng điện<> : Xem phần trên.
+ Cuộn dây sơ cấp bị ngắt: đồng hồ ăm pe sẽ không quay khi máy chạy.
+ Tụ điện bị cháy : Kim đồng hồ ampe bị lệch đi, bôbin bị nóng.
+ Cuộn dây thứ cấp bị ngắt: không có tia lửa điện khi tháo bugi ra và dí vào mát .
Bugi:
<>.
- Bị bám muội bẩn: Lau bằng xăng.
- Chấu bugi hở quá nhiều: Cho chúng xít lại cách cỡ 0.4mm – nên tham khảo sách kỹ thuật về bugi loại xe của bạn vì mỗi xe mỗi khác...
- Lớp sứ bị nứt: Thay bugi.
- Dây nối bugi cách ly tồi: thay thế.
- Bị ẩm: lau khô.
Thiếu sức ép
- Xilanh bị ovan <>; séc măng bị gãy hay mòn: Cần tổng kiểm tra lại máy.
- Xúpáp không kín hoặc đóng không được: Rà lại các xú páp.
- Xúpáp bị kẹt trong ống dẫn hướng: tra xăng vào.
- Lò xo xú páp bị gẫy: Thay thế.
- Đệm đẩy xú páp chỉnh sai: Kiểm tra lại độ lỏng giữa thân xúpáp và đầu của đệm đẩy.
- Đệm bugi không kín : Thay thế.
- Gioăng cu lát không kín: Xiết các ốc ở cu lát lại khi máy nóng.
- Gioăng cu lát bị bể: Thay thế.
Động cơ chạy rồi ngưng
- Nếu có bộ điều khiển phun xăng điện tử<>: Thử lại, thay thế nếu hư.
- Hoà khí quá giầu có thể do:
+ Bướm gió đóng: Mở ra.
+ Phao bị thủng: sửa lại sau khi nhúng nó vào nước nóng để tẩy xăng đi.
+ Van kim nối với phao không đóng kín được: Lau nó cho sạch.
- Khi chạy cầm chừng, động cơ sẽ lạch bạch rồi tắt: Hoà khí qúa giầu do gíc-lơ không tải( gíc lơ phụ) trong cácbuaratơ quá mạnh hoặc do không đủ gió. Hãy chỉnh lại vít chỉnh không tải.
- Máy tắt khi gia tốc : Hãy xem coi gíc lơ chính có bị đóng lại một phần không.
- Khói bốc lửa dội trở lại cácbuaratơ, nẹt lửa( coi chừng cháy): Gíclơ chính quá yếu. Hoà khí cũng có thể bị nghèo do xăng đông tụ, đánh lửa trước không đúng, tụ điện hỏng( thay nó).
Động cơ không bốc được
- Cánh bướm ở cácbuaratơ không mở được hoàn toàn: Kiểm tra lai cần điều khiển cánh bướm gió, khoảng đạp của bàn đạp có thể bị hạn chế bởi sàn xe hoặc thảm xe.
- Gíc lơ chính bị đóng : Lấy số khoẻ hơn sau khi thử vận tốc trên đường. Trên thực tế ta có thể đơn giản dự trù rằng công suất tối đa phải tương ứng với vận tốc tối đa.
- Bầu lọc gió hư, nghẹt: Tháo ra xem, chùi sạch.
( Không thay đổi số của vòi phun mà nhà chế tạo đã chọn và hãy làm cho gíc lơ nhỏ hơn cho vận tốc lớn hơn để xăng không bị tốn nhiều).
- Bộ điều khiển phun điện chạy không đúng: xem dây nối lỏng, vòi phun bị kẹt... sửa lại.
- Nổ dội lại cácbuaratơ khi động cơ đạt tốc độ tối đa: Xăng đến cácbuaratơ quá chậm, khoá xăng mở không hết, lọc xăng bị ngẹt, tụ điện bị hỏng, bơm xăng bị hỏng. Kiểm tra lại, lau chùi sạch sẽ, thay thế.
- Lọc gió quá nhỏ hoặc bị ngẹt: Lấy nó ra hoặc lau chùi.
- Các thắng bị cạ thường xuyên:
+ Người lái quên nhả thắng: Nhả thắng tay ra.
+ Các má thắng điều chỉnh không đúng: Sờ vào các trống trên 4 bánh xe xem cái nào bị nóng, chỉnh lại thắng ở đó.
- Xăng chất lượng tồi: Thay xăng.
Động cơ bị nóng không bình thường
- Nước trong thùng tản nhiệt không đủ: Đổ thêm nước. Xem có lỗ dò nào ở các mối nối ở nút tháo nước hay không.
- Thùng nước tản nhiệt bị đóng bẩn: Lau chùi, xúc.
- Dây curoa của cánh quạt bị chùng hoặc đứt: Căng lại hoặc thay thế.
- Hỗn hợp khi quá nghèo: Tìm xem các lỗ khí vào có bị nghẽn không.
- Đánh lửa trước không đủ: Cân tầm đánh lửa lại.
- Đóng muội trong buồng nổ: Tẩy muội.
- Đồng hồ chỉ nhiệt độ hư: Tháo ra xem sửa lại hay thay.
- Hệ thống phân phối nhiên liệu bị chỉnh sai hoặc lắp không đúng sau một đợt sửa chữa: Kiểm tra lại hệ thống phân phối.
- Bùlon cu lát không chặt: Xem và vặn chặt lại.
Lỗi do người lái xe:
- Rồ máy không tải
- Chuyển sang cấp số cao hơn quá trễ: Xem đồng hồ cây số để có thể chuyển cấp số đúng lúc.
- Đi quá nhanh ở cấp số nhỏ: Thay cấp số kịp thời.
- Trục bơm nước bị kẹt: Bôi trơn.
Động cơ phát ra những tiếng động không bình thường
Tiếng lách cách của píttông: Khi động cơ bị nguội, tiếng này tự nó mất đi sau đó vài phút. Tiếng lách cách do:
+ Đánh lửa quá sớm: Cân lửa lại.
+ Lửa không đều: Tháo ra kiểm tra lại, tra dầu nhẹ. Lau bugi-cạo lớp muội trong các buồng nổ.
+ Tự động đánh lửa-có tiếng nổ ở ống thoát.
- Xóc mạnh đột ngột: Ngừng máy lập tức và cho kéo xe về .
Biên bị cháy do:
+ Thiếu dầu trong các te hoặc nút dầu bị văng mất: kiểm tra mức
dầu trước khi đi .
+ Động cơ gia tốc mạnh khi nguội: cho động cơ chạy không tải trong khoảng 5 phút trước khi đi .
+ Dầu kém chất lượng hoặc quá bẩn :Thay dầu .
+ Đường dẫn dầu bị xì, gioăng bị hở : Kiểm tra thường xuyên tất cả các gioăng dầu.
+ Bơm dầu bị hỏng :Thường xuyên quan sát những chỉ số của đồng hồ dầu.
- Động cơ rung nhiều :
+ Tất cả các động cơ 4 xi lanh đều sinh ra rung động khi ở một vận tốc quay nhất định .Đừng quá lo lắng chỉ cần đừng ở vận tốc đó nữa: Tăng tốc lên hoặc giảm tốc .
+ Có thể ECU hoặc bộ nối hư : Xem và sửa lại .
+ Một sự sửa chữa vụng về có thể làm thay đổi sự cân băng của động cơ: Thay một pittông duy nhất, thay một thanh biên băng một thanh khác có cùng trọng lượng .
- Có tiếng đập gọn: Giơ ở các đầu biên .
- Có tiếng đùng đục: Giơ ở các ổ đỡ trục khuỷu.
- Có tiếng đập trên động cơ nguội: Pittông bị mòn .
Động cơ vẫn chạy khi đã tắt máy
Máy chạy lúc không có số( idle speed) quá nhanh: Chỉnh gíc lơ lại. Hệ đánh lửa không đúng: Chỉnh lại cho đúng. Bugi sài không phù hợp: Thay bugi loại phù hợp. Phun xăng điện tử( EFI) hư:Tháo /xem lại/ sửa lại. Hệ điều khiển ô nhiễm/EGR hoạt động không đúng độ: Tháo ra, xem và sửa lại. Xú páp hư/ còn mở/bị kẹt: Tháo, xem và sửa lại.
HỆ THỐNG TRUYỀN ĐỘNG
Những pan ở hệ thống truyền động thường xảy ra theo 2 cách:
- Cách 1: Động cơ không kéo được xe.
Cách 2: Gẫy một bộ phận nào đó dẫn đến việc liệt và dừng đột ngột các trục đang quay. Khi xe đang chạy sự cố này luôn luôn nghiêm trọng và tai nạn hầu như không tránh khỏi.
Lý do thường gặp của những pan trong hệ thống truyền động là sự mòn đáng kể do độ “giơ” không bình thường do thiếu dầu mỡ và do các thao tác quá đột ngột ( khởi động quá đột ngột, thắng quá gắt ), bắt xe phải làm việc quá nhiều.
Bộ li kết cho số tay
- Embraya bị trượt: Pan này ngiêm trọng. Sự trượt tự nó sẽ ngày một tăng lên rất nhanh và khiến embraya không còn sử dụng được nữa.
+ Một hoặc nhiều lò xo của embraya quá yếu: Tăng lại nhỏ cơ cấu chính của lò xo.
+ Kết cấu bị mòn: Thay thế.
+ Các cơ cấu của embraya bị bám dầu( embraya dùng đĩa ma sát): Phun xăng vào , tìm lý do dầu rỏ vào.
+ Bàn đạp embraya bị kẹt không bật trở lại: Xem lại sàn, thảm xe.
+ Do lái xe không đúng: Người lái xe có thói quen xấu là giữ chân trên bàn đạp embrya, bạc đạn chân sẽ mòn, lò xo sẽ bị mòn và hoạt động sai đi...
Embraya nhả không hết:
+ Khoảng đạp chân không đủ: Xem lại sàn.
+ Bạc định tâm của trục embraya bị kẹt: Tháo ra, lau dầu.
+ Các đĩa bị đảo ( embraya có nhièu đĩa ma sát): Tháo ra thay đĩa.
+ Dầu bị quánh( embraya dầu):Lựa dầu lỏng hơn. Nếu cần pha với xăng.
- Embraya hoạt động có vẻ đột ngột: Thưòng người lái xe có lỗi đối với tình trạng này vì anh ta nhả bàn đạp quá đột ngột.
+ Lò xo quá căng: Nới chúng ra một chút.
+ Các cơ cấu làm tăng dần của embraya hoạt động tồi: Thay thế.
Embraya phát ra những tiếng động:
+ Bi bị vỡ trong bạc đạn: Thay bạc đạn.
+ Bạc đạn chân hoặc chặc điều khiển embraya được bôi trơn kém: Tra dầu mỡ bằng bơm dầu hoặc cây cọ.
Hộp số
Hộp số có thể khó điều khiển ở mỗi cấp số hoặc ngược lại, khó điều khiển ở mỗi cấp số nào đó.
Ngoài ra hộp số có thể phát ra những tiếng động cách quãng đều.
- Không thể chuyển sang một cấp số bất kỳ nào:
+ Khớp cầu của cần gặt bị kẹt: Rất hiếm. Kiểm tra dầu trên hộp số.
+ Sau khi lắp lại không đúng- cái gặt cửa cần số không gần với con trượt nào: Tháo ra, lắp lại.
Không thể chuyển sang một cấp số nào đó:
+ Con trượt bị kẹt: Trở về nhà mà không dùng cấp số này.
+ Con trượt bị vướng bởi một ba vớ hoặc một thể lạ nào đó: Mở hộp số tháo các bộ phận ra, lau sạch bằng xăng và quan sát các nhông truyền.
Không thể rời khỏi một cấp số nào đó: trở về nhà với cấp số đó hoặc cho kéo xe về sau khi bỏ tất cả các bugi của động cơ ra, khoá xăng lại và ngắt lửa. Những tiếng động không bình thường: Một răng bị gãy
( Tìm nguyên nhân và nơi gây ra rung động và tiếng ồn trong khi xe chạy, có khi rất khó vì máy nổ lớn, các bộ phận di chuyển đều góp phần vào việc gây động và ồn! Ta phải theo từng bước có hệ thống để tìm ra nguồn gốc.
- Giật cục:
+ Trên một cấp số nào đó: Chuyển sang cấp số khác để đi về nhà, sau đó ru mạnh răng bị gãy ra khỏi hộp số; Công việc này khá dơ bạn hoặc cho xe kéo về nhà ( khi kéo cho hỏng hai bánh sau)
+ Trên tất cả mọi hộp số: Một răng ở các nhông thường trực bị gãy( hỏng như trên).
- Có tiếng ồn:
+ Thiếu dầu: đổ cho đầy lại. Kiểm tra mức dầu trong hộp số mỗi 1,500 cây số.
+ Lắp không đúng thanh điều khiển hoặc con trượt khiến các nhông không ăn răng với nhau trên toàn bộ bề dầy răng: Tháo ra kiểm tra lại.
- Các nhông bị mòn: thay các nhông mới.
- Các bàn đạp ở hộp số bị bể : Thay thế.
c. Bản thân hệ thống truyền động
Động cơ không kéo được các bánh dẫn động: Một nửa trục của câu sau bị gãy. Cho kéo xe về. ( Nhìn kỹ dưới gầm xe- nhiều khi các bộ phận bị gãy rớt ra thấy rõ; hay bị hư hại... khác với hình dạng của chúng lúc bình thường!!! Có tiếng động trong cầu sau:
+ Giật cục cách quãng đều: Một răng của bánh răng lớn côníc bị gãy hoặc một bạc đạn bị hỏng. Cho keo xe về hổng đít lên.
+ Chỉ bị giật cục khi xe quành: Bộ vi sai bị hỏng.
+ Có tiếng ồn, bôi trơn thiếu hoặc lắp không đúng các nhông côníc: kiểm tra mực dầu mỗi 1500 cây số đường. Kiểm soát lại việc lắp ráp( công việc phức tạp, nên giao cho thợ chuyên môn).
Hộp số tự động
Dầu hộp số bị xì ra, rỉ ra : Xem chỗ xì , vặn chặt lại. Dầu cạn: xem mức dầu hộp số, đổ thêm. Nên để thợ chuyên môn sửa hộp số tự động.
CƠ CẤU LÁI
Ngoài việc gãy các bộ phận mà hậu quả bao giờ cũng nghiêm trọng, cơ cấu lái còn có thể có những hỏng hóc ảnh hưởng đến an toàn của những người trên xe.
Tay lái nặng:
+ Thiếu dầu mỡ ở hộp tay lái dẫn đến tình trạng bắt đầu bị kẹt: Tra dầu mỡ vào. Quay hết cổ tay lại nhiều lần sang trái rồi sang phải.
+ Trục tay lái khó quay vì thiếu dầu mỡ: Tra dầu mỡ. Kiểm tra tình trạng khớp cầu( có thể nó không có hình cầu nữa).
- Tay lái vốn đã nặng khi đi thẳng lại càng nặng hơn nữa khi quành: Cho các cơ cấu lái một độ dơ nhất định ( do bị mòn các cơ cấu này siết lại với nhau).
+ Do xe bị xóc, thanh nối hoặc thanh lái bị cọ lên các nhíp hoặc sát xi: Đi về chậm, nắn lại các thanh này.
+ Có bọt ở trong dầu tay lái nếu có tay lái dầu ( Poiwer steering) - đây là tiêu chuẩn cho các xe loại mới: Cho bọt thoát ra.
Tay lái không ổn định. Xe luôn có xu hướng đi về phải hoặc về trái:
+ Do xe bị xóc: đi chậm chậm. Kiểm tra lại các góc lệch của bánh xe.
+ Miếng chêm được lắp không đúng: Chỉnh lại.
+ Các thanh nối mòn: Tháo ra và sửa lại.
Cơ cấu lái cho thấy tình trạng bị giơ. Tình trạng này thường gặp trên một xe cũ:
+ Tháo ra và sửa lại.
+ Nhấc hai bánh trước lên bằng kích đội và lắc chúng bằng tay. Quan sát việc quay của chúng, các bạc đạn... để làm cho chúng hết giơ.
+ Làm các kết cấu bên trong hộp tay lái bên trong bị hết giơ.
Tay lái ngiêng sang bên: Các bánh xe bơm không đều, các thanh nối mòn, ốc lỏng...: Tháo ra, sửa lại cho chỉnh.
( Trên một đường thẳng, không có xe chạy cả hai chiều- cẩn thận buông cả tay lái ra- nếu xe có khuynh hướng chạy về một phía ( ít hay nhiều) thì cần phải kiểm soát lại các bánh cho thẳng hàng hay không).
HỆ THỐNG NHÚN- NHÍP.
- Gẫy lá nhíp chính: quấn và xiết mạnh phân nửa nhíp bị gẫy bằng dây thừng hoặc dây thép.Khi có thể hãy chèn giữa sát xi và xà trục một cái nệm bằng gỗ, cột nó vào thật chắc. Dù nhíp có gẫy ở đâu đi chăng nữa , hãy đi chầm chập đến nhà xe và thay ngay lá nhíp chính bị gãy.
Gẫy một lá nhíp nào đó: ( Việc gẫy một lá nhíp không phải là lá nhíp chính không bao giờ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Không phải lúc nào ta cũng nhận ra khi đi đường): quan sát thường xuyên các nhíp vì một lá nhíp bị gãy về lâu dài có thể dẫn đến việc gãy cả bộ nhíp. Hãy thay ngay lá nhíp gãy khi có dịp. Lo xo dạng vòng thép hoặc lo xo dạng thanh xoắn bị gãy: thay thế. Nhíp quá nặng:
+ Các lá nhíp bị rỉ sét: quẹt dầu bằng cọ.
+ Giam chân lắp không đúng: kiểm tra lại.
+ Bánh xe quá căng: kiểm tra lại áp suất bằng đồng hồ áp lực.
Nhíp quá nhẹ:
+ Các lò xo bị mỏi: có thể gây ra hỏng gẫy nghiêm trọng trên đường xấu. Các xà trục bánh xe sẽ va vào sát xi.
+Xe chở quá nặng: củng cố lại các lò xo, nhíp.
THẮNG XE.
Xe đảo về một bên khi thắng: đĩa/ bố thắng mòn/ hư. Tháo ra/xem/sửa lại . Phải đạp cần thắng sau xuống mới ăn thắng: hệ thống thắng hư, xem/sửa lại. Có bọt trong dầu thắng, cho bọt thoát ra (bleeding). Dầu thắng ít, cần phải thêm. Thắng ồn, có tiếng út ít: Bố thăng trước mòn, thay ngay. Bố thắng bị cứng, trơn, lỏng phải thay. Rôtơ mòn , tháo ra xem và sửa lại . Phải đạp mạnh mới thắng: Bộ tăng năng suất thắng (BrakeBooster) hư tháo ra, xem sửa lại>. Bố thắng quá mòn, tháo thay thế. Đĩa mâm thắng bị kẹt pittông. Tháo sửa lại. Có dầu ô nhiễm pittông, tháo ra và chùi lại. Xilanh chính bị hư. Tháo sửa lại
6.BÁNH XE
Bánh xe bị đảo do xe gặp xóc: Thay nó, nếu không thì vỏ xe sẽ bị mòn một cách không bình thường . Mất một cái nắp chụp bánh xe (xe tải ): Thay lập tức bằng một mảnh giẻ nhúng dầu cột vào moyô. Mất một đai ốc cố định bánh xe: Lấy đai ốc ở bánh sơ cua để thay vào (nếu ren ốc cho phép).
7. VỎ XE.
Vỏ xe bị mòn một cách không bình thường: hơi không đủ. Độ song song không đúng. Vỏ xe chịu tải quá lớn. Vỏ xe không cân bằng, cân bằng lại. Bánh xe bị hư hao. Xem sửa lại. Bánh xe xẹp lúc đang chạy: dừng lại ở lệ đường, xem coi bánh nào pan, thay bằng bánh sơcua.

CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẠY XE ĐỂ ĐỠ TỐN XĂNG
( Gồm có ít nhất hai phần chính: phần lái sao cho đỡ tốn xăng và phần bảo trì xe để không dùng xăng quá nhiều).
Đừng nổ máy nhiều hay lâu để nóng xe- không làm hư may khi lái xe lúc nguội, mà còn tiết kiệm xăng nữa! Nếu xe có “chốc” ( Choke- là cần kiểm soát xăng lên nhiều hay ít, hay bộ chốc ngẽn hơi, ngạt gió) - đẩy chốc vào từ từ sau khi đề máy. Nếu là chốc tự động thì nên giữ cho hoạt động tốt nhất. Nhớ rằng xe chạy càng nhanh thì càng tốn xăng-lúc xe chạy đừng đạp ga để gia tốc nhanh, giữ một vận tốc đều. Hầu hết các xe chạy ở tốc độ 80 đến 90 cây số/ giờthì dùng 25% xăng ít hơn so với ở 110 cây số/ giờ ( 110 cây số giờ thường là tốc độ giới hạn của xa lộ bên úc...). Chạy xe lúc ngừng lúc chạy như trong thành phố hay lúc nhiều xe trên đường làm tốn xăng. Nếu ngừng 30 giây thì ta nên tắt máy thay vì đốt xăng để giữ cho máy chạy. Nhiều khi ta chay xa hơn tránh các khu nhiều xe mà lại đỡ tốn xăng! ( vì chạy đều, không có ngừng nhiều). Nhiều khi đi tới một nơi gần nhà - đi bộ hay đi xe đạp đều rất tốt cho sức khoẻ của bạn. Thành ra trước khi đi phải dự tính các loại đường và phương pháp di chuyển. Nếu phải dùng xe, thì dùng cho hết khả năng của chúng, nhớ rằng chay xe trong thành phố được một cây số với máy nguội sẽ gia tăng 70% số xăng dùng cho lúc bình thường( máy nóng)! Khi lái xe tránh để xe lên bàn đạp hoặc embraya. Dùng máy lạnh trong xe cẩn thận! Chúng làm tăng 10% sự tốn xăng. Khi đổ xăng đừng đổ xăng quá nhiều vì xăng tràn ra ngoài, bốc hơi, ngưng đổ khi đã đầy bình và vòi xăng gây ra tiếng “cách” ( đầy bình). Khi chạy luôn dùng số cao để tiết kiệm xăng. Đóng các cửa kính khi chạy quá tốc độ 50 cây số / giờ. Đóng cửa xe làm giảm sức cản không khí và do đó tăng công suất máy và đỡ hao xăng. Giữ cho xe nhẹ bằng cách bỏ các vật dụng không cần thiểt trên xe- như miếng đựng ở nóc xe (roof rack) khi không dùng đến - một miếng đựng ở trên nóc xe sự hao xăng tới 10% hay15%. Nên đi chỉnh máy thường xuyênđể thay dầu nhớt, kiểm soát tình trạng bugi, các đường dẫn xăng không bị gỉ hay hở ra... Bánh xe phải được bơm tới áp suất tối đa quy định bởi nhà sản xuất xe. Các máy đo áp suất ở trạm đổ xăng có thể không được tốt, thành ra bạn nên mua riêng đồng hồ áp suất ( pressuare gauge). Bánh xe mềm hay áp suất thấp làm tăng sức ma sát mặt đường và hao xăng. Hệ thống thắng phải được kiểm soát thường xuyên vì sự an toàn – nếu thấy có sức cản hay giật từ bố thắng thì phải kiểm soát chúng ngay! Bình điện phải được quan sát thường xuyên: mức dung dịch, các đầu nối... Để xe trong nhà chứa lúc lạnh hay nóng giữ máy chạy tốt hơn.


(St)

Thứ Tư, 26 tháng 11, 2008

Bàn về phanh khi xuống đèo dốc

Với những dốc ngắn thì không nói làm gì, những với những đường đèo dốc dài thì cũng có nhiều chuyện để nói. Cũng đã nhiều bác phải trả giá tương đối đắt do không có kinh nghiệm xuống đường đèo dốc rồi.

LƯU Ý:

Chú ý quan trọng nhất đối với việc đi xuống đường dốc là việc phanh xe. Một số bác bị mắc lỗi là cứ rà phanh gần như suốt quãng đường dốc, kết quả là cụm phanh bị nóng quá dẫn đến nướng chín những bộ phận xung quanh. Hơn nữa, khi phanh bị quá nóng sẽ mất tác dụng gây nên những hậu quả khó lường.

Đa số xe AT chỉ thiết kế để đi đường bằng, chỉ có một số xe cao cấp hoặc xe SUV mới có chế độ hỗ trợ đi đường đèo dốc. Thực tế thì em cũng chưa chạy SUV số AT đi đường đèo dốc bao giờ nên cũng không rõ là những số hỗ trợ đi đường đèo dốc như số 1 hoặc L thì có tác dụng thực tế đến mức như thế nào.

PHANH NHƯ THẾ NÀO KHI XUỐNG ĐÈO DỐC?

Nói chung, lời khuyên của em với các bác mới tập lái từ những bài đầu tiên đến giờ là mình phải luôn luôn kiểm nghiệm những cảm giác của bản thân khi cầm lái: Cảm giác về khoảng cách, cảm giác về tốc độ, cảm giác về độ căng của bánh xe, cảm giác về hệ thống giảm xóc của xe, cảm giác về tiếng động cơ,... nói một cách văn vẻ là người lái xe phải hòa mình vào chiếc xe như là một bộ phận của chiếc xe đó.

Dài dòng quá em xin đi vào vấn đề chính. Với những bác lần đầu tiên đi đường đèo dốc, đặc biệt là lại đi xe AT, thi em khuyên các bác một câu chân thành là nên mang theo mấy chai nước loại 3lít. Khi xuống dốc, các bác cảm thấy hình như mình rà phanh hơi nhiều thì nên dừng lại (Tuyệt đối không dừng ở đoạn đường cua, kể cả chỗ đó có rộng bao nhiêu đi chăng nữa) và sờ thử vào 4 lazăng xem sao, nếu thấy nóng quá thì cách xử lý phanh của các bác đã có vấn đề rồi, lúc đó mang chai nước mà đỏ vào 4 cụm phanh, nếu không có nước thì phải chờ cho 4 cụm phanh nguội mới đi tiếp được.

Khi xuống dốc, quan trọng nhất là không được rà phanh liên tục mà phải kết hợp giữa phanh chân và phanh bằng số. Với những đoạn của gấp thì phải phanh để xe giảm xuống tốc độ phù hợp trước khi bắt đầu vào cua, không nên bắt đầu vào cua mới phanh, rât nguy hiểm.

Với xe MT thì việc xử lý kết hợp giữa phanh và số không có gì phức tạp. Nhưng với xe AT thi khó hơn nhiều. Để có cảm giác sử dụng số AT khi đi đường đèo dốc thì các bác nên luyện tập sử dụng chế độ Manual (hay còn gọi là chế độ Sport - tùy hãng) khi đi đường bằng. Muốn giảm tốc độ, các bác không dùng phanh mà chuyển sang chế độ Manual rồi dồn số xem phản ứng của xe mình thế nào. Mỗi xe sẽ có phản ứng khác nhau với việc dồn số ở chế độ này. Điều quan trọng nhất các bác lưu ý là độ trễ khi dồn số. Nhiều xe phải mất đến 2~3 giây sau khi các bác gạt cần số thì xe mới chuyển xuống số thấp hơn. Nếu không có cảm giác chính xác về chế độ hoạt động của hộp số tự động của xe minh thì khó mà áp dụng việc dồn số đối với việc đi đường đèo dốc được. Tuy nhiên, khi đi đường đèo dốc thì không nên dồn số để thay phanh.

Kinh nghiệm của em khi đi xuống đường đèo là:

- Không chạy tốc độ cao (đương nhiên roài ).
- Không nên về số Neutral (số mo) cho tiết kiệm xăng vì sẽ mất đến 50% khả năng điều khiển xe (cứ tạm tính là như thế).
- Chạy ở những số thấp thôi, với xe MT thì không nên chạy số 5,6 số 4 thì cũng hạn hữu thôi, chủ yếu là chạy số 3.
- Với xe AT thì với những xe có chế độ chạy đường đèo dốc thì không nói làm gì. Với đa số các xe còn lại thì khả năng phanh bằng số thực tế không tốt lắm. Em đã thử với Focus S, nói chung là không phanh được bằng số, còn với Bim hay Lexus thì hộp số tự động hoạt động ở chế độ Manual khá tốt. Do đó, các bác nên kiểm nghiệm sự hoạt động của chế độ Manual trên đường bằng trước đã.
- Khi muốn giảm tốc độ: Phanh rồi mới về số rồi giữ đều ga. Với những số thấp thì việc điều chỉnh tốc độ bằng chân ga rất hiệu quả, tuy nhiên cũng đòi hỏi sự điều khiển chân ga chính xác và nhạy cảm.
Sưu tầm

Dành cho người mới lái & đang học lái

Dành cho người mới lái và đang học lái

Bước đầu tiên : Lên xe





Lên xe cũng là 1 bước quan trọng đối với 1 lái xe,nhìn trên hình trên có 2 điểm A và B.A là phía lái.B là phía phụ.Khi lên xe người lái xe muốn lên xe phải đi vỏng lên mũi xe rồi vòng sang bên lái mở cửa vào xe(đi ngược chiều kim đồng hồ).Còn nếu đang ngồi trong xe mà muốn đổi sang bên phụ thì mở cửa đi vòng ra đuôi xe rồi đi lên bên phụ(đi ngược chiều kim đồng hồ).Tại sao phải đi ngược chiều kim đồng hồ khi xe đỗ ở lề đường bên phải là vì khi lên xe người lái xe phải nhìn xe từ phía sau đi tới nếu không nhìn phía sau sẽ rất nguy hiểm khi không thấy các phương tiện tiềm tàng nguy hiểm từ phía sau đang lao nhanh về phía mình.

Bước vào xe(xe 5 chỗ):mở cửa xe rồi để mũi chân trái cách cửa 20cm và ở khoảng giữa cửa,tay trái nắm vô lăng hay tay,tay phải tỳ vào ghế rồi cho chân phải vào trước rồi ngồi xuống và kéo chân trái vào.

Đóng cửa xe:Khi đóng cửa xe nhớ đóng mạnh tay 1 chút vì nó có 2 lẫy khóa,đóng mạnh 1 chút thì vào cả 2 còn không nó chỉ vào 1 nấc có khi đi nhanh và vào cua thì cửa có thể bung ra

Chỉnh ghế sao cho mình ngồi thoái mái,không được để ghế thẳng quá vì sẽ làm mỏi lưng mà để nó hơi ngả 1 chút,không để ghế cao sát vô lăng vì sẽ làm khó lái

Chỉnh gương chiếu hậu cho phù hợp với chiều cao của mình và gương chiếu hậu trong xe

Nổ máy:Trước khi nổ máy phải kiểm tra số trước(nhất là số sàn),lắc trái lắc phải để kiểm tra xem nó có vào số hay không rồi mới được nổ máy nhiều người lên xe cứ nổ máy nhưng nhiều khi không biết xe đã vào số nên làm xe bị chồm lên



Căn đường

Trước khi lái 1 chiếc xe nào đấy mà mình không biết được khoảng cách thì hãy vạch 2 đường,1 trước mũi xe và 1 dọc thân bên phải xe như hình trên để căn vạch dừng vào hàng đinh

Căn vạch dừng:kẻ đường ngang mũi xe và cách mũi xe 10cm rồi vào xe ngồi(ngồi thật thoái mái).Nhìn sang 2 bên cửa sổ xe xem cái vạch đó ở chỗ nào trên cửa sổ trái và phải.Dừng vạch tốt khi thi sẽ đỡ mất 15 điểm khi dừng xe ở 3 chỗ"dừng xe cho người đi bộ","dừng trên dốc",vạch dừng xe có tàu hỏa" và tránh nguy cơ toạch(trừ 25 điểm) do đè lên vạch khi xe lên dốc đề pa



Căn hàng đinh:khi kẻ vạch và ngồi trong xe nhìn ra (giống như điểm A trên hình)và xác định xem cái điểm A đó nằm chỗ nào trên kính lái,còn từ điểm A trở xuống dến chỗ giao nhau của 2 đường kẻ là không thấy gì hay còn gọi là điểm mù, thế nên khi lên xe xác định điểm A xong thì ra xem khoảng cách từ điểm A đến chỗ đâu mũi xe bên phải là khoảng cách bao nhiêu để còn ước lượng về sau.

Kỹ thuật đề pa (tập với xe cùi khi xe không có thiết bị báo vòng tua máy).Nhiều người không chú trọng điều này nên khi mới ra trường mà gặp phải dốc và cua gắt dễ làm chết máy hay trôi xe



1)Khi dừng xe ở dốc đạp ly hợp dừng lại(côn và phanh) rồi kéo mạnh phanh tay

2)Chuyển chân phanh sang chân ga đạp ga to lên 1 chút và có cảm nhận bằng cảm giác là máy đang chạy với vòng tua lớn

3)Nhà côn đến khi thấy tiếng máy lịm đi hoặc rung (thả phanh thay ra xe cũng không trôi)

4)Nhả phanh tay,nếu xe đứng yên hay hơi lùi thì đạp thêm ga vào rồi nhả thêm côn ra

5)Lên đinh dốc khi thấy xe đã cân bằng mới được đổi số


Lùi dọc xe vào chỗ đỗ(nếu khó hiểu thì gọi YM sẽ trả lời cho rõ,nêu chưa rõ thì cho thêm số ĐT để gọi)





Hình trên mô tả như trên bãi thi(thông cảm trình độ vẽ bằng Paint lởm nên chỉ được vậy nếu ai làm được hình cái ô tô chéo 1 góc 45 độ thì cám ơn)

Khi thì hay học thì khoảng cách căn đường là rất quan trọng

Cách căn cho xe 4 chỗ :đi sát chuồng muốn vào,lề đưởng song song với thân xe khoảng 20cm đến 30cm.Khi thấy gương xe thẳng với vạch ngang đầu chuồng thì bắt đầu đánh lái(tùy từng loại xe mà số vòng quay vô lăng khác nhau,xe con 2 vòng thì hết lái nhưng khi lên xe cứ đánh lái thử xem có đúng là 2 vòng hết lái không vì có xe đánh lái 3 vòng mới hết lái.Xe đứng yên mà đánh hết lái sang 1 bên thì bánh xe được 1 góc khoản 45 độ so với thân xe.Số vòng xoay vô lăng sau này cũng rất quan trọng nếu như để ý 1 chút,nếu không đỗ xe sẽ bị xiên vẹo.

Hãy xác định khoảng bề rộng của chuồng sau đó đánh dấu,ví dụ khoảng cách khi xe vào chuồng rồi thì bên trái 30cm bên phải 30cm thì ra chấm 1 cái chấm cách góc trên của chuồng khoảng 20cm(như hình trên).Khi đánh lái phải tạo được 1 góc 45 độ(làm theo sân thi) khi tim mình và tâm vô lăng xe và mũi tên dưới đường thẳng hàng và đi 1 chút đến khi nào không còn nhìn thấy mũi tên nữa rồi dừng lại và trả thẳng tay lái(muốn thẳng tay lái đọc kỹ câu trên).Khi này nhìn gương chiếu hậu sẽ thấy cái chấm đầu chuồng ở đuôi trái xe là được.Khi lùi thẳng xe thấy bánh sau bắt đầu chạm vào chấm đó thì đánh hết lái sang trái rồi lùi lại.Khi lùi thấy thân xe thẳng hàng với chuồng thì trả thẳng lái rồi lùi tiếp vào.Khi ra khỏi chuồng thì khi thấy gương bằng đầu chuống thì hết lái đánh ra ngoài

Đối với những xe không có mõm dài như xe 4 chỗ mà người lái sát phía trên thì khi người lái ở giữa chuồng thì bắt đầu dánh lái,còn thao tác thì giống trên